Huyện Giao Bắc nằm về phía Tây của châu Hách, là nơi được họ Lê nắm giữ thế tập chuyên chính qua nhiều đời. Bắt đầu khi Thông Diệu (Lê Xuân) trở về đạo Lâm Nam sau khi học được các đạo và phép của Lý Anh, ông đã chọn vùng núi non hiểm trở dựng nên bản doanh riêng, khai hoang đất đai, huy động dân chúng khắp nơi tới an cư lập nghiệp. Danh tiếng dùng 136 bài thuốc Nam chữa bách bệnh của Thông Diệu lan khắp vùng, ai ai cũng nể danh uy của ông mà tôn ông làm hào trưởng địa phương vùng núi ít người sinh sống.
Giao Bắc vốn do họ Lê chấp chính huyện lệnh biên vực, ít giao chiến và xung kích từ bên ngoài. Có sự tích dân gian cho rằng Thông Diệu và các con cháu kế tục ông đều có giao thiệp với người tinh linh ở một vùng mật cư thuộc ấp Trũng Thiên – vốn được cho là đã không còn hiện diện của dân cư tinh linh từ hàng ngàn năm rồi. Họ Lê đi vào xứ kín này, thông qua một con đường đầy đá nhọn, quanh nó là rừng sâu nước độc khó đi, tiến vào mật cư bằng bởi câu thần chú cho Thông Diệu đi lại an toàn – dạng thần chú vốn đã thất truyền sau thời của hai vị lão bất tử hơn ngàn năm.
Việc làm gần kín kẽ này không ai rõ nguyên nhân cụ thể, có người cho rằng họ Lê bảo vệ nhóm tinh linh còn sót lại khỏi sự xâm nhập không mong muốn, đổi với cho việc hỗ trợ phép thần thông cho họ Lê nhằm xây dựng địa bàn, hoặc nhằm xưng bá một phương, hoặc cả trời đất cõi này chăng?
Cho dù sao, chúng ta có thể thấy họ Lê đã thực sự kết hợp thuật quản trị của phái Lý Anh và phép thần thông chữa bách bệnh, dựng nên công nghiệp của toàn Giao Bắc suốt hàng chục thế hệ tiếp nối. Do được tôn làm hào trưởng qua hàng thế hệ, cũng như chính sách khoan dân, bảo vệ biên cương trước sự rình rập của nước Chang và các tộc Tây Cương; những điều đó giúp cho họ Lê bám rễ sâu, một phương hùng cứ góc núi trời riêng dù thuộc đạo Lâm Nam, là phiên dậu của các triều trên.
Tới năm 1521 (tức là năm thứ 25 đời Trượng Lâm triều Sở), Lê Phổ lập chính thức phủ huyện Giao Bắc ở Lam Tây, vốn xưa là rừng thiêng nước độc, rắn hổ coi là nhà nên không một ai dám chạm tới. Nhưng khi xưa ông cố Lê Phổ là Lê Diễm tới nơi thì ông đã dùng bí truyền xưa, phong ấn tà khí ma quái; biến một vùng đất tựa lưng đồi về hướng trời mọc trở nên trù phú, dân cư no đủ tới mỗi tháng trẩy hội cúng heo quay, uống rượu ăn mừng.
Sang tới đời Lê Phổ, ông kết thúc thời kỳ phiêu bạc, thiếu hành dinh của tiền nhân mà dựng nên một tòa phủ đặt nền quản lý cả huyện, từ nay cố định huyện phủ cai trị dân chúng. Tuy vậy, ban đầu phủ được xây một cách giản dị: nhà ba gian, ở giữa trước là nơi xử lý công việc của địa phương; có một tấm ván gỗ đỏ cho hào trưởng và thân cận của ông xử lý công vụ, hai bên gian chỉ là nơi đặt bàn ăn uống khi cần. Sau phủ là phòng thờ, phòng ngủ và phòng cất giữ đồ đạc. Ngoài nhà là gian bếp, nhà vệ sinh và các chỗ trồng cây ăn trái lấy mát. Có lẽ phủ đặc biệt ở chỗ là lấp mái ngói mỏng phẳng hình lập phương màu xanh lá, trong khi đó đa số nhà khác đều lợp mái rơm, hoặc ngói vảy cá, hơn nữa thì là ngói âm dương mà thôi. Ngay cả hơn nhiều nhà trong vùng thì phủ huyện của họ Lê vô cùng đơn sơ so với các nha phủ chỗ khác rất nhiều, nhưng lại có thể trị an một nơi biên thùy không gặp chút trở ngại nào suốt nhiều năm.
Năm 1536, một nhóm chằn tinh[1] đột Tây vượt núi mà tấn công Trúc Nam (tên cũ của Lâm Nam), dẫn đầu là Quỷ Trằn với hơn hai ngàn tộc nhân của hắn mang ý định cướp bóc và diệt tộc người với lý do báo thù ngàn kiếp bất phục với nhau. Lê Phổ dùng nỏ binh bắn xong rồi chạy trên đồng cỏ, bọn chằn tinh sinh kiêu ngạo mà đuổi theo thì bị 10 thớt voi dày xéo phục kích mà chết hơn ngàn tên, trong đó có cả Quỷ Trằn. Chiến công tới tai triều đình Đại Sở, Bình Khang bèn phong Lê Phổ làm Tông Xã Giao Bắc, đứng đầu một xã (lúc này Giao Bắc hãy còn thuộc huyện Hách Sơn dù thực tế tiểu vương đạo ấy là Triệu Khải phong Lê Phổ làm huyện lệnh), lãnh chức chánh bát phẩm, đời đời tập ấm chức vụ cho con cháu. Đây là lúc vị thế của họ Lê được nâng lên, biết tới ở Trúc Nam là tiểu thổ quan mà khí thế và đức hạnh ngang nhau, sánh với các huyện lệnh khác trong vùng.
Tới thời loạn Nam Bắc, Giao Bắc nói riêng và cả Trúc Nam nói chung đều giữ được một mức độ yên ổn nhất định. Lê Khuôn tiếp nhận luồng người di cư từ phương Bắc đi xuống, trong đó có gia tộc họ Cự dẫn đầu là Cự Bạch xin định cư tránh loạn Trung Nguyên đồ sát. Cự Bạch giúp họ Lê đắp đê, dựng đập ngăn lũ, xây dựng các tháp canh dọc biên giới để truyền tin báo động địch chằn tinh cũng như thổ phỉ cướp bóc, hãm hại dân làng. Ông được chính Lê Khuôn nhận làm quân sư, phong làm tòng bát phẩm Phó Tông Xã và họ Cự cũng đời đời làm mưu gia cho dòng tộc Lê từ đó.
Kết thúc loạn Nam Bắc, Cô triều tái lập chuyên chính ở Trung Nguyên và Trúc Nam trở lại quy phục thế lực ở Chánh Đô thuộc đạo Trung Hồ. Lê Nghiêm cảm thán rằng:
” Hợp rồi lại tan, tan rồi lại hợp. Ấy thế suốt trăm năm người phàm luôn khao khát ngôi vị quân tử tới cỡ vậy, hô hào vì dân mà ép dân đi lính chém giết lẫn nhau, máu đổ thành sông, hoa quả bị vắt khô tới giọt cuối cùng. Vậy mà cũng chỉ là lá rụng cũng có lá mới thay, bình mới nhưng vẫn đổ rượu cũ mà thôi, há chăng đời người chỉ có chừng đó?”
Là người hào trưởng của một huyện thuộc Đại Cô mà ông không hề mù quáng một lòng phục vụ triều trên xa xôi lại nhu nhược với thần dân biên cương như vậy, Lê Nghiêm một lòng vì dân, ông tiếp tục thi hành chính sách của dòng tộc với sự phò tá của quân sư Cự Lý.
Khi đó, vào năm thứ 20 của đời Đức Thái (năm 1846) thì Giao Bắc đã thực sự lớn mạnh, dân số hơn 3 vạn, ruộng cấy 1 năm đủ nuôi 5 năm cho nên nguồn thuế đạt trên đầu người không thua kém Hách Sơn là bao. Cự Bình khuyên Lê Nghiêm dời phủ về Lại Yên – là một nơi bằng phẳng, dân cư dễ tụ tập làm ăn và dựng nên cơ đồ lớn cho dòng tộc, vả lại phía Nam có bìa rừng để lui binh dễ dàng khi có bất trắc xảy ra đột ngột. Lê Nghiêm bèn chấp thuận, cho rời hành dinh về Lại Yên cách Lam Tây 130 dặm về hướng Đông và thiết lập phủ mới cùng với các dãy nhà dân cư xung quanh.
Khác với phủ ở Lam Tây, phủ ở Lại Yên mang dáng của nhà thế gia môn phiệt hơn nhiều. Cổng chính phủ được làm bằng gỗ lim sơn màu đỏ sáng rực, hàng rào lấp gạch vò, còn bên trong căn nhà chính có tận năm gian hai chái, bên cạnh có hai căn nhà nhỏ hơn của dòng tộc, bên rìa là nơi cất giấy tờ, phía sau là sân vườn rộng rãi có hòn non bộ, có ao hồ lớn, trúc tre đặng che mát khuôn viên và nhà kho cất dụng cụ phụ. Tất cả căn nhà đều lợp mái ngói lưu ly màu đỏ nâu, nội thất bên trong đều có chạm khắc tinh xảo, kèo gỗ được sơn xanh ngọc, chèn họa tiết hoa lá mùa thu, xứng là nhà của một hào tộc địa phương.
Xung quanh phủ có các ngôi nhà lợp ngói âm dương màu nâu tối, các dãy nhà phố san sát nhau, tuy không bằng Lân Nội sầm uất nhất nhì Trúc Nam, Hải Sơn tấp nập hay cả Hách Sơn nhị thành cấp nhưng cũng đủ là thị trấn lớn đối với Giao Bắc và Tây Cương lân cận, nơi mà ngà voi, sâm bổ, tre nứa, gỗ quý và cả trăm thứ thuốc bí truyền (mà họ Lê độc quyền) tập kết để vận chuyển, buôn bán với bên ngoài cũng như là nơi trung gian cho việc mua bán muối, cá khô, gạo, vải lụa, sò, ngọc trai… với dân Giao Bắc, bộ lạc phía Tây, Trũng Thiên Ấp. Thực sự kể từ đây quyền lực ảnh hưởng với các lãnh thổ phía Tây đều thi hành, thực hiện ở Lại Yên.
Ngoài ra, lũy Lại Yên cũng được đắp bằng đất cứng nện trên móng tre nứa, cùng với bên ngoài thành phía trước bọc thêm đá tảng để phòng thủ vững chải cho người trong thành. Chu vi thành khoảng 5820 trượng, lũy thành cao khoảng 13 trượng, lũy dày cỡ 18 trượng; thế mà nên một trường lũy vô cùng kiên cố ở nơi vốn không có kiến thức về nghệ thuật thành lũy, tuy so với Hách Sơn lại không bằng về mọi mặt.
Năm thứ 6 đời Khải Lịch (năm 1886), nhân lúc Nguyễn Diệp cùng với Nguyễn Tống Sơn mang vạn binh trách phạt Cau Phương thì Lê Nghiêm hỗ trợ bằng cách đem 200 cung nỏ thủ cùng với 5 ngàn thạch quân lương cho họ Nguyễn với danh nghĩa vì triều đình cùng đem binh diệt phạt tặc bang xâm lấn. Ơn nghĩa đó mà khiến Nguyễn Diệp – lúc này đã kế thừa huyện lệnh từ cha mình, đã xin triều đình ban chức huyện lệnh Giao Bắc cho họ Lê và Khải Lịch đã chuẩn y theo. Kể từ đó, Giao Bắc được nâng lên thành cấp huyện, còn Lê Nghiêm nhận lấy chức chánh thất phẩm còn Cự Tiên cũng phong làm tòng thất phẩm phó huyện lệnh; cả hai chức vụ này đều là đời đời thay nhau mà giữ lấy, cho thấy uy thế họ Lê đã thực sự được tôn trọng tới cỡ nào ở Hách châu.
Lê Nghiêm mất năm 1900, thọ 105 tuổi. Con là Lê Uýnh kế thừa chức huyện lệnh chánh thất phẩm của cha mình, phó huyện lệnh vẫn là Cự Tiên phò tá giúp cho. Lê Uýnh là một người nhanh nhẹn, thông minh thiên phú và có tầm nhìn xa về mưu sự. Ông đoán về việc thiếu bóng tiểu vương dẫn dắt ở Lâm Nam sau biến cố lầu Thanh Xuân và việc triều đình Đại Cô nhu nhược, không để tâm tới dân sinh các đạo sẽ khiến các nơi loạn trở lại, ngay cả đạo Lâm Nam sẽ có kẻ tranh quyền mà chém giết lẫn nhau.
“Ta không muốn thấy cảnh chiến loạn lầm than trở lại khắp nơi, dân chúng ca thán, trúc chảy ra máu, sông chất đầy xác ôi thiu. Vả lại, việc này cũng khiến cho Rợ Bắc, nước Chang và nước Gò Xung nhân cơ hội mà gây thêm đổ máu” – Lê Uýnh nói với lại phò tá Cự Tiên đầy sự u sầu, bất lực.
Cự Tiên đáp lại một cách chậm rãi nhưng lại rõ ràng từng câu, mang phong thái của một lão nhân trải qua lục tuần:” Thần nghĩ lời nói của đại quan là rất đúng, không hề thiếu sót một góc nào cả. Đại quan không khác cha của người một tý nào về sự nhạy bén và lo xa…” – Cự Tiên bắt đầu nói thêm với một giọng lớn hơn – “…nhưng thần càng thấy ta nên có ba thứ này trước: một là liên minh với lại họ Ngô – đứng đầu đương chức lục phẩm Tổng châu của dân Hách để tạm yên dân, giữ hậu cứ dù tạm chịu phục họ Ngô; hai là chuẩn bị binh mã, tập hợp thế lực, cũng như cho người tới ải Đương tập luyện theo lối đánh của quân Đương Nam – vốn có hảo tình với chúng ta nên họ sẽ chấp nhận. Hai điều trên giúp cho chúng ta dần lấy được tiếng tăm, cũng như ẩn nhẫn chờ đợi vì cho dù sau thần nghĩ đại quan sẽ thọ cao nên chịu cúi mình xuống một thời gian là khổ nhục kế, sau đó chúng ta sẽ vươn ra khắp cõi Lâm Nam dễ dàng…”
Cự Tiên chưa kịp nói xong thì Lê Uýnh ngang lời vì đụng phải lời khó nghe:
” Ngài nghĩ ta thực sự muốn trở thành bá vương của cõi Nam này sao? Nhưng nếu vậy thì phải giẫm đạp lên bao nhiêu thứ, biết nhiêu người mới có được danh vị chưa có thực xuất hiện này chứ? Ta thiết nghĩ để mọi sự bên ngoài tự sinh tự diệt đi, nếu bọn Đại Quỷ tràn xuống được tới Lâm Nam thì ta cố thủ ở Lại Yên và cùng lắm rút về địa bàn tinh linh ở Trũng Thiên Ấp mà sống sót qua ngày, ta chỉ có nghĩ tới vậy mà thôi! Nhưng mà xin tiên sinh cho biết thêm về thứ cuối cùng mà tiên sinh muốn nói, dù ta thực sự không muốn tranh bá!”
“Thần nghĩ ngài chưa rõ tận tình tiểu kế hướng tới đại sách của thần…” – Cự Tiên nói thêm – “… cho nên thần sẽ nói về cái thứ ba chúng ta cần: đó chính là một quân sư tài năng dẫn dắt cả đạo Lâm Nam , người ấy sẽ hỗ trợ vị tướng tài ba dẹp yên loạn cũng như trấn áp giặc Rợ Bắc, khiến cho các nể trọng trước. Người quân sư ấy sẽ là người Hỗn tộc từ Liệp Sanh tới, mà khiến cho ai không dám coi thường năng lực bởi xưa nay mọi vị minh quân, tướng tài, chiến binh diệt bọn Ma tộc, dùng thương chém quỷ sâu cát, giết chết Vô Hương, Sói Vương đều đến từ Hỗn tộc cả. Thống nhất đạo Lâm Nam, trấn uy giặc Nam Hải, Rợ Bắc nhưng sau cùng xưng bá trời Nam khi các thế lực cũ đã chết, con cháu họ sẽ quy phục họ Lê, còn quân sư người Hỗn tộc ấy sẽ hỗ trợ ngài và dòng tộc ngài. Đó mưu sách, tuy nhỏ thấp nhưng có thể chuyển thế tứ phương tám hướng cho ngài!”
“Nhưng mà làm vậy cực kỳ thất đạo và lợi dụng lòng người lẫn nhau, dù có thể mang lợi ích cho họ Lê ta, họ Cự ngài cũng như hưng thịnh cho đạo Lâm Nam lâu dài thay vì phải phục tùng Trung Nguyên. Ngài tính rất là thâm sâu và đầy tấm lòng tận trung cho họ Lê ta, nhưng ta phải suy tính kỹ lại” – Lê Uýnh thở dài và mang sự lúng túng với Cự Tiên vì đây là kế sách để làm đại sự, khó có thể quay lại mà sửa sai.
Cự Tiên trả lời ung dung nhưng đầy sự chân thành:
” Xin chi chủ huyện lệnh thấu tâm, bởi vì giữa việc cứu lấy vạn người mà để vài người phải hy sinh thì không hề sai chút nào. Năm xưa Đương Hương phải gây chiến mới phục hồi dân sinh Cửu Đạo được, hay các đại vương Hỗn tộc cũng phải liên chiến với Sói Vương mới mong lấy lại thái bình yên dân. Mà cũng xin chi chủ đại quan đừng lo, bởi mưu của thần sẽ mang lợi cho chi chủ đại quan tốt nhất mà ít gây hậu quả, tiếng dơ ít nhất cho họ Lê ngài. Bởi tiếng xấu sẽ dồn về những kẻ khác nhiều hơn, như gỗ mục còn tốt hơn gỗ nát. Mong đại quan hãy quyết định sáng suốt, suy xét và phân đoán giỏi như các đại tiền bối của ngài đã làm!”
Với lời nói thiệt lợi mà phần lợi nghiêng rõ về họ Lê như vậy, Lê Uýnh suy nghĩ một hồi lâu với kế mưu quyết xưng bá một cõi đầy táo bạo của phò tá họ Cự. Qua tới hai canh giờ thì vị huyện lệnh nói một dõng rạc và đầy ý chí với Cự Tiên:
” Vậy thì quyết theo kế sách của tiên sinh tới cùng, một đi không lùi bước. Thế cục càn khôn sẽ thuộc về chúng ta, thu phục cõi Nam!”
Chi chủ huyện Giao Bắc sau đó quy phục trước họ Ngô, đứng đầu là Ngô Khởi – Tổng Châu Hách Chủ. Tiếp theo, Lê Uýnh cử hơn 500 quân tinh nghệ nhất của mình, thông thạo cung nỏ sang doanh trại của Nguyễn Tư – con của Nguyễn Diệp và là huyện lệnh Đương Nam, huấn luyện cách chiến đấu vùng biển cũng như thủ thành trì khỏi quân địch bao vây, tấn công. Lê Uýnh cũng bí mật cử con mình là Lê Trắc cùng với những thân binh trà trộn vào kỵ quân Lũng Tây và Lâm Bắc – là đệ nhất, đệ nhị quân giỏi chinh chiến của 15 đạo Trung Nguyên để học hỏi lối đánh của kỵ binh (dù thực tế tinh linh đã giúp họ Lê cách đánh khinh kỵ, thiết kỵ nhưng họ thiếu hiểu biết lối đánh du mục của Rợ Bắc và các đạo phương Bắc). Những việc này cho thấy họ Lê đã quyết tâm cho công nghiệp của họ, rằng tất cả đã có sự sắp xếp từ trước.
Và sự sắp xếp này đạt ngoài kỳ vọng của họ, bởi thực tế sau hai năm cai trị huyện lệnh của Lê Uýnh thì vào năm thứ sáu của đời Diên Xương (năm 1902), thế lực họ ngoại thích nổi loạn vì sợ trung thần Vũ Kiến Cát – là vị Đô đạo của đạo Lũng Tây phát giác âm mưu liên kết Rợ Bắc lật đổ ấu chúa nên đã ly khai ở ba đạo Vân Nam, Phương Giang và Hồ Nam, xưng là Hậu Sở Đại Vương. Các đạo khác cũng hưởng ứng theo: đạo Lâm Bắc ly khai lập thành nước Yên, đạo Sóc Bắc ly khai lập thành nước Sóc, đạo Hải Tây xưng làm vương nước Trương, hai đạo Cách và Tiến Nam tách ra thành nước Thục, còn đạo Loan Đông cũng được hậu thuẫn của nước Hồng Qua mà tách ra thành nước riêng. Cho thấy Cự Tiên quả là có tiên đoán tuyệt diệu, thực sự thời loạn thế kiểu nào cũng xảy ra. Bắt đầu cho màn sân khấu anh hùng bi tráng, chém giết nhưng cũng mang dấu ấn hùng vĩ của thời thế. Phương Nam sẽ nổi lên một vị minh chủ mà không ngờ tới, tất cả xuất từ lời hiến kế năm nào.
**Chú thích:
[1] chằn tinh là một nhóm có hình dạng giống như quỷ nhân, nhỏ lùn nhưng rất hung bạo, hiếu chiến và ăn thịt người, tinh linh, Hỗn tộc cũng như chính bọn chúng với nhau. Chúng được cho là tạo bởi một đại quỷ của mọi đại quỷ đã tồn tại trên đời, ngày cả Vô Hương cũng không biết rõ chúng có từ khi nào. Có người nói chằn tinh là biến thể giữa rắn quỷ với tinh linh bị tha hóa với nhau, vì chằn tinh sống khá lâu, có tên có thể đã sống tới 588 tuổi. Cuối kỷ hỗn loạn, với sự hợp lực từ hai vị lão bất tử cùng với liên minh người – tinh linh đã diệt được Đại Cực Đế Quỷ ở phương Tây, sau thì lũ chằn tinh cùng với các tộc quỷ khác tự đánh nhau mà dần diệt chỉ còn lẻn lút trốn xa khỏi người và tinh linh, nhưng mối hận thì không hề rửa nổi.