Từ khi Đấng Trời tạo nên thế giới và thiết lập Đại Lục này, khai sinh tộc người và tộc tinh linh cùng nhau chiến đấu với tộc quỷ, dân Ma Sơn và dân Rơ (gọi chung là người Rợ Bắc) dưới sự lãnh đạo của Đại Quỷ Đế Vô Hương ở đảo phía Bắc là Sá Ai. Các nước của con người ở Thiên Trúc, Trung Nguyên và Nam Hải đoàn kết chống lại tới năm 2500 của kỷ thứ nhất [1] thì Vô Hương bị đánh bại và phong ấn vô thời hạn. Kỷ nguyên thứ hai bắt đầu với sự liên minh giữa tộc người và tộc tinh linh, hai bên giao hảo và kết hôn với nhau hình thành nhóm người được gọi là người Hỗn Tộc.
Các vị vua Hỗn tộc cai trị các xứ ở Đại Lục trong hơn 3500 năm một cách anh minh và sáng suốt, nhưng vì họ ít sinh sản với lại một phần bị đố kỵ bởi tộc người qua sự thông thái cũng như mang một tuổi thọ khá cao (bình thường một Hỗn nhân sống được 350 đến 400 tuổi); họ cũng phần chết dần do ám sát và trên chiến trường chống lại tàn dư của Vô Hương ở mạn Bắc.
Năm 3805 của kỷ thứ hai, Sói Vương – một thuộc hạ cũ của Vô Hương, đã thống nhất Ma Sơn và Rơ xâm chiến lần nữa Thiên Trúc, Trung Nguyên và Nam Hải, diệt gần hết Hỗn Tộc. Tuy con người, Hỗn tộc và tinh linh đẩy lui được nhưng tinh linh và Hỗn tộc chán ghét sự tàn độc của Lục Địa nên đa số đã di cư, rút về hòn đảo lớn phía Đông Nam, thành lập cộng đồng liên minh Liệp Sanh – là nơi cho tinh linh, Hỗn Tộc và những con người yêu chuộng hòa bình, muốn né tránh cảnh máu đổ lầm than.
Còn ở Lục Địa thì bắt đầu kỷ nguyên thứ ba với sự chia rẽ trầm trọng của ba nhóm Thiên Trúc, Trung Nguyên và Nam Hải đã tự chia ra thành chục quốc, tự đánh giết lẫn nhau cùng với tàn dư của thế lực Vô Hương, Sói Vương.
Chúng ta sẽ bắt đầu từ nay tập trung ở những vùng đất phía Đông Đại Lục vào kỷ thứ ba này, vốn là nơi tranh giành ảnh hưởng của các quốc gia Trung Nguyên với nhau. Vùng đất ấy gồm nhiều vương quốc nhỏ tập hợp thành các liên minh chống lại tàn dư phía Bắc, nhưng sau này tự đánh nhau với mong muốn sau này dựng lại quốc gia có thời kỳ huy hoàng của Hỗn Tộc. Cuộc chiến mà tất cả làm cho việc tranh giành bá quyền này gọi là Tương Tàn Diệt Nhau-bởi vốn là các nước sát cánh chống lại Vô Hương và rợ phía Bắc suốt hàng ngàn năm, nay trở mặt mà tàn sát lẫn nhau. Làng mạc bị đốt phá, thành trì bị sụp đổ, dân chúng chịu cảnh bi thương, cam khổ bởi nạn đói, bắt phu và thảm sát không tiếc từ kẻ thù đối nghịch. Chín nước Trung Nguyên đánh nhau, trăm vạn hùng binh mã giao tranh, biến cả vùng đất thành bãi tha ma, máu chảy cuộn thành sông đổ xuống biển suốt 500 năm.
Tất cả bi ai, ca thán đều kết thúc khi Đương Hương – vương của Hà Tây (nước Đà) đánh bại 8 nước tranh hùng, cất cử Triệu Trương đem 60 vạn quân [2] dẹp loạn tình trạng cát cứ, phân liệt. Sau đó chính Đương Hương đã xưng mình là “Đại Vạn Thắng Trung Nguyên Vương”, đóng đô tại Hà Xương (tên chính sử gọi là Xương Đô), đặt tên nước là Xương, lấy niên hiệu là Long Khánh. Long Khánh thống nhất chữ viết, hệ thống tiền tệ, đúc vũ khí nhưng vẫn cho 8 cựu vương thất trận cai trị cũ – bọn họ được gọi là Bát Đạo Cựu Vương, cai trị với tư cách là tiểu vương sẽ nộp thuế và cung cấp binh sĩ cho đại vương khi cần thiết. Các tiểu vương này chỉ mất quyền khai thác muối, sắt, để triều trên quản lý thương cảng và cũng phải chấp nhận cải cách văn hóa của triều trên.
Triều Xương cai trị được 135 năm thì xảy ra biến loạn của các tiểu vương Bát Đạo, sau đó Hà Văn Doãn của đạo Lĩnh Đông lại thống nhất 9 đạo lại, lập ra nước Tề cai trị trong 320 năm kế tiếp. Đất nước thời Tề đạt ngưỡng thái bình, dân chúng yên ổn nên phát triển hàng trăm nhà tư tưởng như Đào Khiêm [3] lập trường học ở Lâm Cát thuộc đạo Lĩnh Đông, nêu cao việc “giữ vững tôn nghiêm, phép tắc trật tự, xây dựng tông miếu, thờ cúng gia đạo”, quan hệ của đại vương với tiểu vương là anh cả bảo vệ các em nhỏ, không lấp áp giữa hai bên, còn dân với quý tộc là quan hệ chủ công che chở thường lại. Đào Khiêm nói về thời cuộc dân trị của nước Tề, vốn là đỉnh cao khi đó:” Thiên dựng nên Đất và Nước, nhưng Thiên cũng dựng nên Người và Tinh (linh), vốn là ôn hòa với nhau nhưng sự tàn độc của kẻ bất tuân làm cho thiên hạ chịu cảnh lầm than, con cái bị hiến cho lửa dữ và phục dịch quỷ đối nghịch với Trời. Dẫu có toàn năng thì Thiên cũng không quản nổi Thiên Hạ, nên Nhân phải tự làm lấy. Sợ hãi chính là động lực của cái ác từ ngàn xưa dựng nên cho người tâm không vững , hiểu biết trật tự mới chính là đạo phải giữ”. Các học trò học ở Lâm Cát cùng với Đào Khiêm được gọi là Khiêm gia.
Còn ở đạo Phương Giang của nước Phương cũ thì có một ẩn sĩ tên là Lý Anh – người huyện Nam Bàn, sống quanh dãy Nam Giang sát với châu Lạng của đạo Lâm Nam. Lý Anh chủ trương sống hiệp với Trời, hòa cùng Đất, vua không nên sống xa hoa, theo lối của Tinh (linh) năm xưa. Ông đã tiếp xúc với các tinh linh trong những thung lũng phong ấn và loạt hang động mà các vị lão bất tử giúp xây cho; Lý Anh học từ tinh linh nhiều phép tinh thông cho việc cứu chữa và võ thuật bí truyền. Học trò của ông đa phần là nông phu và lâm phu nên các tư tịch viết về ông khá mờ nhạt, nhưng có đệ tử Thông Diệu (tên thật là Lê Xuân, người sinh ở châu Hách của đạo Lâm Nam) đã theo ông và ghi chép lại rằng Lý Anh có biết “gần trăm loại thuốc chữa trăm bệnh và ký truyền võ mà một địch mười tên mạnh mẽ từ nước Rơ”. Phái của Lý Anh phổ biến ở đạo Lâm Nam, đạo Phương Giang, đạo Hồ Nam, đạo Loan Đông và lấn sang nước Hồng Qua, là phái trần tục nhất nhưng cũng bí hiểm, khó học hoàn mỹ nhất.
Khiêm gia vốn chiếm ưu thế trong triều đình đại vương và các quý tộc các đạo phía Bắc suốt 148 năm cho đến khi đại vương Diên Ninh nghe theo Hồng Soán – là người đạo Hà Đông mà áp dụng cải cách quyền lực gọi là Binh gia. Binh gia là để cho quyền lực các đạo nằm dưới sự quản lý chặt hơn từ quân đại vương, các tiểu vương sẽ phải cung cấp nhiều thuế và quân nhu cho triều đình hơn trước đây. Việc này làm bất mãn các đạo và Hạng Doanh – tiểu vương đạo Phương Giang đã nổi dậy, lập nên Sở triều. Nhưng chưa được 100 năm thì chính con cháu của Hạng Doanh áp dụng lại sách Binh Gia do Lạc Tô làm chủ phái, lại dẫn tới các đạo liên tục nổi loạn và lãnh tụ nước Rơ là Đạp Lâm Thiệp Hưng xâm nhập vào Trung Nguyên cướp phá. Quân nước Rơ sử dụng sói kỵ, ngựa hắc và sâu to hủy hoại đạo Sóc Bắc và Lâm Bắc – khiến cho nửa dân hai đạo ấy chạy về phía Nam. Các đạo phía Bắc của phái Binh gia cự với các đạo phía Nam do phái Khiêm gia suốt 280 năm gọi là “Loạn Nam Bắc” , tận khi Triệu Minh – tiểu vương của đạo Trung Hồ đã nhờ Trương Hiếu dung hòa hai phái lập nên Hòa phái – thế lực nhà vua sẽ không xâm phạm đất đai của quý tộc địa phương nhưng tất cả các tiểu vương phải thề trước Trời Đất rằng các tiểu vương ấy chỉ phục vụ một mình Đại Vương – cũng là người nhận lấy Thiên Hạ do Thiên phong làm thần. Từ đó triều Cô do Triệu Minh (niên hiệu là Đức Thái) đặt kinh đô là Chánh Đô ở đạo Trung Hồ cai trị cho đến nay.
Đạo Lâm Nam, xưa vốn là nước Trúc Nam do họ Triệu nắm tự chủ từ những năm đầu tiên của kỷ thứ 3 cho đến khi đại vương của Sở triệu thu phục vào năm thứ 12 của Trượng Lâm (năm 1508 ở kỷ thứ 3). Các đại vương Trung Nguyên chỉ bắt họ Triệu hàng năm cống nạp 10 voi chiến, 100 rùa Ba Ba, 50 cân hồi hương cho triều trên. Thời Loạn Nam Bắc thì đạo Trúc Nam tự chủ cho đến khi nước Cô tái lập bá quyền ở Trung Nguyên, tiếp tục quy phục cho họ Triệu đạo Trung Hồ.
Năm 1882 ở kỷ thứ 3, tức là năm thứ hai của đời Khải Lịch thì biến cố kinh thiên động địa cho đạo Trúc Nam xảy ra vì tất cả gia tộc họ Triệu chuyên chính Trúc Nam bị chết cháy trong lầu Thanh Xuân ở phủ Lân Nội (có kẻ cho rằng nhà vua nước Chang – Chế Uông đã cho người diệt tộc để có thể làm lung lay Trúc Nam). Sự cố này làm cho các hào tộc ở Trúc Nam tự chủ, đất ai nấy giữ. Tên Trúc Nam chuyển sang Lâm Nam từ đó với lý do là tránh điềm gỡ cũ.
Đạo Lâm Nam gồm 4 châu và 14 huyện, những nơi này đều do các gia tộc, các hào trưởng địa phương cai trị mà không hề có sự quản lý từ cả tiểu vương đạo và đại vương triều trên. Bốn châu này gồm: châu Lạng nằm ở phía Bắc với đạo Tiến Nam, đạo Vân Nam, đạo Phương Giang và đạo Hồ Nam còn châu Giao nằm ở giữa có một phần sông Cở phía Nam và sông Tô Hiên làm địa giới châu; châu Lâm nằm về phía Đông: vốn là tập hợp của nhiều cửa sông (có cả sông Cở và Tô Hiên), nhiều kênh rạch nhỏ; ở phía Nam tận cùng là châu Hách, là biên cương của Lâm Nam với nước Chang, tinh linh và các bộ tộc người Thân. Tài nguyên xứ Nam gồm gạo Giao, lụa Hưng Giang, nhân sâm Dương Sơn, hải sâm Sơn Nam, ngọc trai Nghệ Hách và voi Giao Bắc – đây là những sản vật giá trị cao ở vùng Lâm Nam, được dâng tiến thượng vương và biếu phẩm cho các nước.
Là vùng đất phía Nam của cánh tay nối dài cho đại vương nên đạo Lâm Nam có mức tần suất giao thương, buôn bán tấp nập, sôi nổi và nhộn nhịp từ khắp nơi: ngay cả các nước ở Thiên Trúc và Nam Hải, ai cũng biết tới Lâm Nam là cửa ngõ trong việc buôn bán với Trung Nguyên. Các thành Hải Sơn, Sơn Nam, Tơ Cở là các cảng biển tiếp nhận thuyền bè thương nhân, còn phủ Lân Nội đóng vai trò là nơi tiêu thụ lớn của vùng.
Ngoài Phương Giang ra thì không một đạo nào ở phương Nam Trung Nguyên sánh bằng với đạo Lâm Nam về dân lực, binh lực, tài lực, sản vật, buôn bán hết cả. Danh tiếng làm cho nước Chang và Gò Xung phải ganh ghét và kính nể đôi phần.
**Chú thích:
[1] Kỷ thứ nhất bắt đầu với việc khởi đầu thời kỳ an bình sau khi đánh bại Đại Cực Đế Quỷ ở phía Tây, dưới sự trợ giúp của hai vị lão bất tử từ Viễn Tây sang giúp.
[2] Con số thực tế là 50 ngàn quân vì sử ở vùng đất phía Đông thường mang tính phóng đại cao.
[3] Đào Khiêm (1280-1340 ở kỷ thứ ba) là con út của một thương gia giàu có nhưng ông lại thân với bên ngoại – vốn là sĩ tộc Lĩnh Đông nên khiến ông thấm nhuần tư tưởng “đặt mình nhẹ hơn xã tắc”. Ông chỉ viết cuốn “Đại Quốc Trị” nhưng lại được giới sĩ tộc khen ngợi và lưu truyền về sau bởi mọi thế hệ sĩ phu nối tiếp.