Chương 8: Phần I Dưới lòng sông Tô - Người già bên sông
Con hẻm sau chợ hẹp đến mức hai người đi ngược chiều phải nghiêng vai né nhau. Mái tôn hai bên gác lên nhau, che gần kín khoảng trời phía trên, chỉ để lọt xuống vài vệt nắng mỏng, run rẩy trên nền xi măng ẩm. Mùi cá khô, mùi rau úa từ chợ sáng còn vương lại, trộn với mùi ẩm mốc bốc lên từ những bức tường loang lổ rêu.
Nam dắt xe máy đi bộ, Thắng theo sau, tay cầm mảnh giấy ghi vội địa chỉ chú Quân đọc cho.
"Số nhà không rõ, chỉ ghi là cuối ngõ, cạnh cây gạo."
Cây gạo hiện ra ở khúc cua cuối cùng, thân to hai người ôm không xuể, vỏ xù xì đen sẫm. Dưới gốc cây, một căn nhà cấp bốn nép mình, mái ngói cũ phủ một lớp rêu xanh xám, cửa gỗ khép hờ. Trước hiên, một người đàn ông ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp, đang vá lại tấm lưới cũ trải rộng trên đùi, đôi tay gân guốc thoăn thoắt luồn kim qua từng mắt lưới đứt.
"Cháu chào ông ạ." Nam dừng lại cách hiên vài bước. "Cháu là Nam, bên Viện Khảo cổ. Chú Quân giới thiệu cháu đến gặp ông."
Người đàn ông ngẩng lên. Khuôn mặt ông rám nắng, hằn sâu những nếp nhăn chạy dọc từ khóe mắt xuống quai hàm, như những đường nứt trên phù sa khô. Ông nhìn Nam một lượt, rồi nhìn sang Thắng, ánh mắt dừng lại hơi lâu ở chiếc máy ảnh đeo trước ngực Thắng.
"Chú Quân giới thiệu à." Ông đặt tấm lưới xuống, gọi vọng vào trong nhà. "Bà nó ơi, pha ấm trà."
Trong nhà chỉ có tiếng quạt trần cũ kêu cọt kẹt. Một lúc sau, tiếng dép lê loẹt quẹt vang lên, một cụ bà bước ra, bưng theo khay trà đã cũ, men sứt ở vành. Ông Tư ra hiệu cho hai người ngồi xuống bộ ghế tre kê dưới bóng cây gạo, chỗ nắng không chiếu tới.
Thắng lấy sổ tay ra, định ghi chép ngay, nhưng Nam đưa mắt ngăn lại. Anh nhớ lời chú Quân dặn: để ông kể chuyện đời trước.
"Ông làm nghề chài lưới ở đoạn sông này lâu chưa ạ?"
"Gần sáu mươi năm." Ông Tư rót trà, tay vẫn còn dính vài sợi lưới cước mỏng dính vào ngón cái. "Bỏ nghề cũng phải hơn hai năm rồi. Giờ nước đen thế kia, có quăng lưới xuống cũng chỉ vớt được túi ni lông với xác chuột."
Ông kể về những năm còn trẻ, khi nước sông Tô Lịch còn trong, cá rô, cá diếc bơi thành đàn dọc bờ lau sậy. Ông kể về những buổi chiều chèo thuyền độc mộc dọc khúc sông, tiếng mái chèo khua nước đều đặn, tiếng trẻ con tắm sông gọi nhau í ới từ bờ bên kia. Giọng ông chậm, đôi lúc dừng hẳn để nhấp một ngụm trà, mắt nhìn xa xăm qua khoảng sân hẹp, như đang nhìn thấy lại chính khúc sông của bốn mươi năm trước.
Nam để ông nói hết mạch chuyện, không ngắt lời, chỉ thỉnh thoảng gật đầu. Mãi đến khi ông Tư tự dừng lại châm điếu thuốc lào, rít một hơi dài, Nam mới khẽ hỏi.
"Ông có nhớ hồi đó, người ta có kiêng kị gì với đoạn sông này không ạ?"
Ông Tư nhả khói, mắt nheo lại nhìn Nam qua làn khói mỏng.
"Cháu hỏi thế là hỏi đúng người rồi đấy."
Ông kể, giọng hạ thấp hơn một chút, dù trong sân lúc này chỉ có ba người và cụ bà đang lúi húi nhặt rau ở góc hiên.
"Một số đoạn, tối đến không ai dám bén mảng. Không phải vì trộm cắp, cướp giật gì. Chỉ là... không ai đi qua đấy sau khi trời sập tối, dù đường có gần hơn cả cây số."
"Đoạn nào ạ?"
"Đoạn khúc cua gần cầu, chỗ bây giờ các cháu đang đào ấy." Ông Tư gõ nhẹ tàn thuốc vào chiếc gạt đất nung đặt cạnh ghế. "Hồi xưa các cụ dặn, đi qua đấy ban đêm, có nghe tiếng gọi tên mình cũng đừng ngoái lại."
Thắng bất giác ngừng tay, cây bút đang cầm khẽ khựng trên trang giấy.
Ông Tư kể tiếp, từng chuyện nối tiếp nhau như một cuộn chỉ được gỡ dần. Chuyện không được vớt bất cứ thứ gì trôi dạt vào bờ mà không rõ chủ, dù là đồ vật trông có giá trị đến đâu. Chuyện không gọi tên người đã khuất khi đứng gần mặt nước, vì các cụ tin rằng tiếng gọi có thể kéo theo thứ gì đó ngược lên từ dưới đáy. Chuyện có khúc sông người lớn cấm tiệt trẻ con bén mảng, dù nước ở đó nông hơn hẳn những chỗ khác, tưởng chừng an toàn nhất để lũ trẻ tập bơi.
"Trẻ con thời tôi nghịch lắm, nhưng cứ đến gần đoạn đó là tự dưng đứa nào cũng chột dạ, chả cần ai quát." Ông Tư cười khẽ, nụ cười không kéo dài quá một nhịp thở. "Có đứa kể nhìn thấy cái gì đó dưới nước, hình người, có khi hình khác, chả rõ. Nhưng chưa đứa nào mang được cái gì từ dưới đó lên cả. Cứ động vào là tuột tay, hoặc vừa cầm lên đã vỡ vụn."
Nam ngồi im, ngón tay siết nhẹ quanh chén trà đã nguội, không uống.
"Ông từng chứng kiến người ta đào bới ở khúc sông này chưa? Kiểu như công trình, nạo vét như bây giờ ấy."
Ông Tư gật đầu chậm, đặt điếu cày xuống nền sân.
"Có chứ. Lâu lắm rồi. Hồi ấy người ta mở rộng đường, phải đào lấn vào bờ sông một đoạn. Máy móc thô sơ hơn bây giờ nhiều, chủ yếu là người đào tay, xe cải tiến chở đất."
"Có chuyện gì xảy ra không ạ?"
"Có người chết." Ông Tư nói câu đó nhẹ như đang kể một chuyện thời tiết. "Một thanh niên, khỏe mạnh, đang đào bỗng dưng lăn ra, chưa kịp đưa đi viện đã tắt thở. Bác sĩ bảo là cảm, trúng gió gì đó dưới nước bốc lên. Vài tháng sau lại có người khác gãy chân vì sập hố, trong khi hố đó vốn không sâu đến mức gãy chân được."
Ông ngừng lại, rót thêm trà cho cả ba, dù chén của Nam và Thắng vẫn còn gần đầy.
"Còn có chuyện tôi chỉ nghe kể lại, không tận mắt thấy. Bảo là ngày xưa, xưa lắm, có đoàn người đến đào tìm vàng bạc gì đó chôn dưới sông theo lời đồn. Đào được nửa chừng thì bỏ hết, không ai giải thích vì sao. Có người bảo họ thấy gì đó dưới hố đào, sợ quá bỏ của chạy lấy người. Chuyện đó truyền từ đời ông tôi, đến khi kể lại cho tôi thì đã tam sao thất bản không biết bao nhiêu lần rồi."
Cụ bà từ góc hiên bỗng lên tiếng, không ngẩng đầu khỏi rổ rau đang nhặt.
"Ông đừng kể chuyện đó cho các cháu, để người ta còn làm ăn."
Ông Tư khoát tay, cười xòa, nhưng ánh mắt khi quay lại phía Nam đã bớt đi phần nhẹ nhõm lúc đầu.
Nam gấp cuốn sổ tay đang mở dở, nhìn thẳng vào ông.
"Ông có biết dưới đoạn sông này trước đây có gì không?"
Ông Tư đưa mắt qua khoảng sân hẹp, qua mái tôn thấp, hướng về phía có thể nhìn thấy một vệt sáng bạc của dòng nước xa xa cuối ngõ, nơi ánh chiều đang bắt đầu ngả màu. Bàn tay ông đặt lên tấm lưới cũ, những ngón tay gân guốc siết nhẹ vào mắt lưới đứt, như thể đang cố giữ lại thứ gì đó chực tuột đi.
"Biết thì đã chẳng còn gọi là lời đồn."