Chương 1: Hương hoán khả

Thần linh không bán hào quang, Quỷ ma chẳng lấy lòng tham con người. Khói tàn đổi lấy phút vui, Đến khi tro lạnh, mất người tri âm. Trận mưa kéo dài suốt đêm trút xuống sông Tần Hoài khiến những rãnh thoát nước bằng đá xanh hai bên con phố cổ Nam Kinh ngập đầy nước, mặt nước lấp loáng dưới ánh đèn đường. Khói từ những quán ăn đêm bốc lên nghi ngút, hòa với hơi ẩm ngai ngái của bùn đất sau mưa, phủ lên những mái ngói rêu phong một vẻ trầm mặc, cô tịch. Tôi và Cố Thành vừa bước ra khỏi dinh thự của nhà họ Trương. Lão chủ nhà đích thân tiễn chúng tôi ra tận bậc thềm, hai tay xoa vào nhau, trên mặt không giấu nổi vẻ thán phục, ánh mắt cứ dán chặt vào Cố Thành. “Cố tiên sinh quả là cao nhân. Căn nhà này đã qua ba đời chủ mà vận khí vẫn luôn trì trệ, mời bao nhiêu người đến xem cũng chẳng tìm ra được căn nguyên. Vậy mà tiên sinh chỉ bấm tay tính toán một phen, tìm đúng hướng nước chảy, vận khí trong nhà đã khác hẳn. Cảm ơn cậu, cảm ơn cậu nhiều lắm. Thật không biết phải cảm tạ cậu thế nào cho đủ.” Cố Thành khẽ gật đầu, đưa tay kéo quai túi trên vai lên cao hơn một chút. Vẻ mặt anh ta vẫn bình thản, chẳng để lộ chút dao động nào. Lão Trương móc ra một phong bao màu đỏ, cung kính đưa cho Cố Thành. Khi tôi bước xuống bậc đá, chiếc vali đựng thước cuộn, sổ ghi chép và ống nhòm chuyên dụng vô tình va vào cạnh cửa, phát ra một tiếng cộc khô khốc. Lão Trương chỉ liếc tôi một cái, hờ hững gật đầu thay lời chào rồi lập tức quay vào trong, khép cánh cửa gỗ sẫm màu lại. Tôi siết chặt quai vali đến mức lòng bàn tay hằn lên những vệt đỏ. Chúng tôi lớn lên trong cùng một khu tập thể cũ, học chung từ thời trung học. Vậy mà chẳng biết từ bao giờ, giữa tôi và Cố Thành đã xuất hiện một khoảng cách sâu đến mức tôi không còn nhìn thấy đáy. Cố Thành cao hơn tôi nửa cái đầu, vai rộng, chân dài, lúc nào cũng có dáng vẻ nhàn nhã như thể chẳng chuyện gì trên đời đáng để hắn bận tâm. Gương mặt hắn thuộc kiểu càng nhìn càng thấy đẹp, sống mũi cao, đường nét rõ ràng, đôi mắt hơi xếch ở đuôi khiến vẻ lười nhác thường ngày đôi khi thoáng lộ ra chút sắc bén khó nắm bắt. Hắn hay mặc áo khoác rộng, tóc chẳng mấy khi chải chuốt tử tế, lúc đi khảo sát còn thường xuyên nhét một tay vào túi quần, tay kia xoay xoay chiếc bật lửa. Trông hắn chẳng giống một người làm nghề phong thủy nghiêm túc, càng không giống kẻ được người ta cung kính gọi một tiếng Cố tiên sinh. Còn tôi thấp hơn hắn, dáng người cũng nhỏ hơn, gương mặt còn mang nét non nớt. Tôi từng thử để tóc giống hắn, mua những chiếc áo khoác có kiểu dáng tương tự, thậm chí bắt chước cách hắn đứng tựa tường mỗi khi chờ khách. Nhưng những thứ ấy khoác lên người tôi chỉ khiến tôi trông như một kẻ đang cố bắt chước. Tôi biết mình không xấu xí, chỉ là gương mặt thiếu đi vẻ ung dung tự tin của Cố Thành, ánh mắt mỗi khi đứng trước người ngoài lại dễ để lộ sự dè chừng. Tôi muốn người khác nhìn nhận mình như một người có bản lĩnh nhưng vẻ ngoài thì chỉ khiến họ xem tôi như một kẻ còn non kinh nghiệm. Cố Thành chưa bao giờ cố ý phô trương tài năng. Mọi thứ dường như đều đến với hắn một cách tự nhiên, dễ dàng như cây cối đến mùa thì đơm hoa, kết trái. Còn tôi, kẻ thức trắng đêm nghiền ngẫm từng cuốn bản đồ kiến trúc cổ, cẩn thận ghi chép từng độ dốc của mái nhà, từng thế đất, rốt cuộc vẫn chỉ là kẻ đi theo sau hắn, xách chiếc vali đựng những thứ mà có lẽ hắn chẳng bao giờ cần đến. “Ăn chút mì không?” Cố Thành dừng lại ở đầu ngõ. Chiếc áo khoác mỏng trên người hắn đã thấm đẫm sương đêm. “Tùy cậu.” Tôi đáp cụt lủn. Chúng tôi rẽ vào con ngõ hẹp dẫn sâu vào khu Khổng Miếu. Dãy cửa hiệu bán đồ mỹ nghệ hai bên đường đều đã đóng cửa, chỉ còn mấy chiếc đèn lồng đỏ dưới mái hiên khẽ đung đưa theo từng cơn gió lạnh. Cố Thành đi trước tôi vài bước. Bóng lưng hắn vẫn thẳng tắp, bước chân thong dong như thể chẳng có chuyện gì trên đời đáng để bận tâm. Tôi nhìn theo, bàn tay lại vô thức siết chặt quai vali. Dường như dù có cố gắng đến đâu, tôi cũng chỉ có thể đi phía sau hắn như thế này, một làn sóng đố kỵ trào lên trong ngực tôi, nghẹn đắng. Đến một khúc ngoặt tối om, tôi vô tình tụt lại phía sau, chẳng mấy chốc đã cách Cố Thành một quãng. Một mùi hương lạ bất chợt len vào khứu giác. Nó không giống mùi nhang thường phảng phất quanh chùa miếu, cũng chẳng giống trầm hương. Mùi hương ấy ngọt nhưng phía sau vị ngọt lại phảng phất hơi ấm âm ỉ, tựa mùi vỏ cây khô cất kín trong một chiếc hộp gỗ đã nhiều năm, đến khi mở ra, thứ hương cũ kỹ ấy mới chậm rãi thoát ra ngoài. Tôi ngoảnh đầu lại. Giữa hai bức tường gạch nhung đỏ đã loang lổ dấu thời gian, một cánh cửa gỗ thấp bé đang hé mở, chỉ cao đến ngang ngực người trưởng thành. Phía sau cửa là một tấm rèm dệt bằng sợi đay thô, buông kín lối vào. Tấm bảng hiệu bằng gỗ bách đen treo lệch đề hai chữ: Thính Hương. “Vào đi, kẻ đang tìm kiếm sự công bằng.” Giọng nói đàn ông cất lên từ phía sau tấm rèm. Âm sắc khô khốc, đều đều, không nghe ra chút vui buồn như âm thanh phát ra từ cuộn băng cát-sét cũ đã qua nhiều năm sử dụng. Như ma xui quỷ khiến, tôi cúi người bước qua ngưỡng cửa thấp lè tè. Gian phòng hẹp đến mức chỉ vừa đủ kê một chiếc bàn vuông bằng gỗ xoan đào. Ngọn đèn dầu đặt trên bàn cháy leo lét, ánh sáng vàng vọt chỉ soi rõ một khoảng mặt bàn, còn người đàn ông ngồi xếp bằng phía sau vẫn khuất trong bóng tối. Trên tay ông ta là một chiếc cân tiểu ly bằng đồng, hai đĩa cân khẽ lay động, phát ra tiếng va chạm khe khẽ. “Cửa tiệm chúng tôi không bán trà, cũng không bán đồ cổ.” Người đàn ông ngước mắt nhìn tôi. Ánh đèn dầu hắt lên đôi đồng tử phủ một lớp màng đục, không phản chiếu lấy một tia sáng. “Ở đây có thứ cậu muốn. Chỉ cần cậu biết mình thực sự muốn gì.” “Ông nói gì tôi không hiểu.” Tôi lùi lại một bước. “Bạn của cậu rất giỏi.” Lão mở một chiếc hũ gốm nhỏ, dùng thìa bạc múc ra một nhúm bột mịn màu nâu xám “Năng lực của hắn giống như ngọn núi lớn đè lên ngực cậu. Đứng cạnh một người như thế, hẳn cậu cũng mệt mỏi lắm. Cậu đi bên hắn bao nhiêu năm, trong lòng vẫn luôn không cam tâm, đúng không?” Tim tôi đập mạnh một nhịp. Tôi chưa từng kể với ai những suy nghĩ ấy, thậm chí còn cố giấu chúng đến mức chính mình cũng chẳng muốn thừa nhận. Vậy mà lão chỉ cần vài câu đã vạch trần tất cả. Lão gói nhúm bột vào một mảnh giấy rồi gấp lại làm tư, nhẹ nhàng đẩy về phía tôi. “Đây là Hương Hoán Khả. Tối nay, đợi hắn đã ngủ say, cậu hãy thắp hương này ở góc phòng phía Bắc. Hương liệu này sẽ chuyển bớt phần may mắn và trực giác của hắn sang cho cậu. Hắn sẽ không còn quá nổi bật, cậu cũng chẳng phải mãi đứng sau lưng hắn nữa. Cả hai sẽ đứng ngang hàng.” “Vậy … nó có nguy hiểm đến tính mạng không?” Tôi đưa tay chạm vào gói giấy, đầu ngón tay khẽ run. “Chẳng ai chết vì mất đi một chút tài năng.” Lão mỉm cười, để lộ hàm răng trắng ởn. “Chẳng qua chỉ là sự san sẻ đôi chút giữa những người bạn mà thôi.” Tôi móc toàn bộ số tiền mặt trong túi đặt lên bàn, chộp lấy gói giấy rồi vội vã rời khỏi tiệm. Ra đến đầu ngõ, tôi mới nhận ra lòng bàn tay mình đã rịn mồ hôi. Cố Thành đang đứng tựa vào bức tường gạch, một tay che ngọn lửa bật lên từ chiếc bật lửa, tay kia kẹp điếu thuốc. Thấy tôi đi ra, hắn ngẩng đầu. “Đi đâu đấy?” Ánh mắt hắn lướt qua mặt tôi, dừng lại ở bàn tay đang siết chặt túi áo. “Tớ thấy trong ngõ có quán mì nhỏ, tiện thể vào xem thử.” Tôi bước nhanh qua mặt hắn, cố giữ giọng bình thản. Cố Thành rít một hơi thuốc, chậm rãi thả một làn khói trắng vào màn đêm. Hắn nhìn tôi thêm một lúc rồi mới lặng lẽ bước theo sau. Phòng khách sạn chúng tôi thuê nằm ở tầng ba của một tòa nhà cũ gần sông. Trong phòng phảng phất mùi vôi tường ẩm mốc, lẫn với hơi nước lạnh lẽo từ mặt sông len qua khe cửa. Đã hai giờ sáng, Cố Thành nằm quay lưng về phía tôi, hơi thở đều đặn, dường như đã ngủ say. Tôi chậm rãi ngồi dậy trên giường, lén lấy từ trong túi ra gói giấy. Bột hương màu nâu xám được tôi nắn thành một thỏi nhỏ bằng đốt ngón tay, đặt lên chiếc đĩa sứ dưới chân bàn trang điểm phía Bắc phòng. Tôi bật lửa châm vào đầu thỏi hương. Ngọn lửa nhỏ bùng lên trong thoáng chốc rồi tắt, chỉ còn một đốm đỏ âm ỉ. Một làn khói mảnh như sợi chỉ chậm rãi cuộn lên, mang theo mùi hương ngọt lịm, thoạt đầu thoang thoảng sau đó len sâu vào mũi. Tôi nằm xuống, kéo chăn lên ngang ngực, mắt mở trừng trừng nhìn trần nhà. Chỉ khoảng mười phút sau, đầu óc tôi bỗng trở nên tỉnh táo khác thường. Lớp sương mù dày đặc vốn bao phủ tâm trí tôi suốt nhiều năm qua như bị một bàn tay vô hình vén sạch. Các dây thần kinh sau óc giật lên liên hồi. Mọi âm thanh trong căn phòng dường như trở nên rõ ràng. Tôi có thể nghe rõ tiếng giọt nước nhỏ tong tong ngoài ban công, thậm chí cả tiếng vải ga giường cọ nhẹ vào tay áo khi cử động. Ánh mắt tôi dừng trên chiếc bình hoa gốm cổ đặt ở góc phòng. Chỉ nhìn thoáng qua, tôi đã nhận lớp men ở gần đáy bình có chỗ bất thường. Chiều nay, dù đã đứng trước nó một lúc lâu, tôi vẫn không phát hiện ra điều đó. Giờ đây, từng chi tiết nhỏ dường như đều tự hiện rõ trước mắt, từ độ chuyển màu của lớp men đến những đường vân mảnh chạy dọc thân bình. Giác quan của tôi chưa bao giờ sắc bén đến thế. Tôi cúi nhìn hai bàn tay mình, khóe miệng bất giác nhếch lên. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, tôi có cảm giác mình đã tiến gần đến Cố Thành thêm một bước. Tôi quay sang nhìn Cố Thành. Hắn khẽ trở mình, hàng lông mày nhíu lại đầy mệt mỏi, hơi thở trở nên nặng nề. Hai tay hắn vô thức co lại trước ngực, cả người cuộn vào trong chăn như thể đang chịu đựng một cơn rét buốt. Sáng hôm sau, chúng tôi nhận lời đến khảo sát ngôi nhà cổ họ Lý ở ngoại ô Nam Kinh. Ngôi nhà này xây từ thời nhà Thanh, lưng tựa vào núi, mặt hướng ra một ao nước tù đọng. Vừa bước qua cổng chính, tôi liền nhận ra thế nhà có vấn đề. Gạch lát dưới chân lạnh buốt, hơi lạnh len qua đế giày, khiến lòng bàn chân tôi tê rần. “Bố cục này … là Thuỷ Phá Càn Vị.” Tôi cất lời trước, giọng điệu chắc chắn đến mình cũng thấy xa lạ. “Đường thoát nước phía Tây Bắc bị nghẽn, khiến khí mạch của ngôi nhà bị tổn hại.” Ông chủ họ Lý ngạc nhiên, ánh mắt chuyển từ tôi sang Cố Thành. Cố Thành đứng bên cạnh tôi, sắc mặt nhợt nhạt hơn thường ngày, quầng thâm dưới mắt đậm đến mức khó mà che giấu. Hắn quan sát quanh khoảng sân hồi lâu rồi mới giơ tay bấm quẻ. Những ngón tay vốn linh hoạt nay cử động chậm chạp, thỉnh thoảng còn khẽ run. Hắn nhìn về phía góc Tây Bắc, lông mày nhíu lại. “Đường nước … hình như chảy từ phía Đông Nam.” Cố Thành lên tiếng, giọng khàn đặc. Hắn nhìn về phía ao nước, vẻ mặt đầy do dự nhưng hướng hắn chỉ ra lại trái ngược hoàn toàn với địa thế trước mắt. “Đông Nam gì chứ?” Tôi lập tức ngắt lời hắn, bước lên trước một bước, đứng chắn giữa hắn và ông chủ Lý. “Địa thế phía sau nhà dốc về Tây Bắc, đường thoát nước đương nhiên phải men theo hướng đó. Cố Thành, hôm nay cậu bị làm sao vậy? Đến chuyện cơ bản này mà cũng nhìn nhầm?” Cố Thành không tranh luận. Hắn lùi lại nửa bước, ánh mắt dừng trên người tôi. Trong ánh mắt hắn không có sự ngạc nhiên hay xấu hổ vì phán đoán sai lầm, chỉ có một sự bình thản khó hiểu, khiến tôi thoáng thấy bất an. Sau khi danh tiếng của tôi bắt đầu lan ra, người tìm đến nhờ thẩm định đồ cổ ngày một nhiều. Những lời khen ngợi trước kia vốn thuộc về Cố Thành giờ dần chuyển sang tôi. Ban đầu, tôi vẫn giữ vẻ khiêm tốn nhưng mỗi lần nghe người khác nhắc đến tên mình với ánh mắt kính nể, trong lòng lại dâng lên một cảm giác thỏa mãn khó tả. Tôi bắt đầu tin rằng những phán đoán của mình không bao giờ sai, còn những người xung quanh chẳng qua chỉ chưa đủ tinh mắt để nhìn ra điều tôi đã thấy. Một buổi chiều, có cậu học việc trẻ mang đến một món đồ đồng nhặt được từ kho hàng cũ. Cậu ta đặt nó lên bàn, dè dặt hỏi tôi liệu món đồ có đáng giá hay không. Tôi chỉ nhìn qua vài lần đã nhận ra những vết gỉ trên bề mặt không tự nhiên nhưng phần hoa văn lại được làm khá khéo léo. Món đồ ấy không hẳn là đồ cổ, song cũng chẳng phải thứ có thể kết luận thật giả chỉ bằng một cái liếc mắt. Cậu học việc đã cẩn thận ghi lại những đặc điểm mình quan sát được. Trong bản ghi, cậu ta cho rằng món đồ có thể thuộc về một giai đoạn muộn hơn so với niên đại mà người bán đưa ra. Đó không phải kết luận hoàn toàn chính xác nhưng ít nhất cậu ta đã nhận ra điểm bất thường quan trọng nhất. Tôi đọc hết bản ghi, đặt xuống bàn rồi hỏi cậu ta đã dựa vào đâu để đưa ra kết luận. Cậu ta giải thích từng chi tiết, giọng càng lúc càng nhỏ. Tôi đẩy món đồ về phía cậu ta, bảo rằng nếu ngay cả niên đại cũng không phân biệt nổi thì tốt nhất đừng nhận xét về đồ cổ. Mấy người đang ngồi trong phòng đều nhìn sang. Cậu học việc đỏ bừng mặt, vội vàng giải thích rằng mình chỉ đưa ra phán đoán ban đầu, vẫn cần kiểm tra thêm mới có thể kết luận. Tôi cắt ngang, chỉ vào một chi tiết trên thân món đồ rồi nói rằng ngay cả chỗ này cũng nhìn không rõ thì những ghi chép trước đó chẳng có giá trị gì. Thực ra, tôi biết chi tiết ấy không đủ để phủ định toàn bộ nhận xét của cậu ta. Tôi chỉ cần một lý do để chứng minh mình giỏi hơn còn cậu ta vừa hay trở thành kẻ để tôi trút sự kiêu ngạo ấy lên đầu. Cuối cùng, cậu học việc mang đồ đi kiểm tra lại. Cậu ta ôm món đồ rời khỏi phòng, hai bàn tay siết chặt đến mức những khớp ngón tay trắng bệch. Trước khi đi qua cửa, cậu ta ngoái lại nhìn tôi. Ánh mắt ấy có thất vọng, có xấu hổ còn có cả sự khó hiểu của một người không biết mình đã làm gì để bị đối xử như vậy. Tôi nhìn theo cậu ta, trong lòng không hề thấy áy náy. Trái lại, tôi còn cho rằng mình đã giúp cửa hàng tránh được một kẻ non nớt, thiếu năng lực. Khi người chủ quay sang khen tôi tinh mắt, tôi mỉm cười nhận lời, thậm chí còn chỉ ra thêm vài khuyết điểm trong cách ghi chép của cậu học việc để chứng minh nhận xét của mình. Tôi đã chờ đợi khoảnh khắc này quá lâu. Mỗi lần thấy người khác chăm chú lắng nghe mình, tôi lại càng tin rằng cuối cùng bản thân cũng có thể đứng ngang hàng với Cố Thành. Dần dà, tôi chẳng còn muốn nhường hắn cơ hội lên tiếng nữa. Nhưng cùng lúc đó, một thứ gì đó bên trong tôi bắt đầu sụp đổ. Tôi ngày càng dễ nổi nóng, đến mức chỉ một chuyện nhỏ cũng đủ khiến tôi bực bội. Mỗi lần ngồi vào bàn ăn, mùi thức ăn vừa dọn lên đã khiến dạ dày tôi cuộn lại, buồn nôn đến mức chẳng muốn động đũa. Những gia chủ tìm đến chúng tôi thường mang theo đủ nỗi lo âu và khổ sở. Ngày trước tôi luôn kiên nhẫn lắng nghe nhưng giờ đây, mỗi lời than thở chỉ khiến tôi mất kiên nhẫn. Tôi thấy họ phiền phức, yếu đuối, thậm chí không hiểu nổi vì sao những chuyện vụn vặt ấy cũng đáng để họ bận lòng. Đêm nào tôi cũng đợi Cố Thành ngủ say rồi lén thắp một đoạn Hương Hoán Khả. Khói hương lặng lẽ lấp đầy căn phòng. Đến lúc ấy, tôi mới nhận ra có điều gì đó đang dần biến mất khỏi đầu óc mình. Cố Thành ngồi bên bàn, âm thầm sắp xếp lại những cuốn sổ khảo sát. Nhìn bóng lưng hắn, tôi chợt nhớ đến mùa hè năm mười hai tuổi. Tôi từng bị một con chó dữ đuổi đến tận con hẻm sau trường. Hôm ấy, tôi trốn học ra ngoài mua một món đồ chơi cũ, lúc quay về thì gặp con chó đang nằm trước cổng. Tôi định lùi lại nhưng vừa cử động, nó đã dựng tai lao tới. Tôi hoảng đến mức chân tay cứng đờ, chỉ biết chạy bừa qua mấy con ngõ nhỏ, cuối cùng vấp ngã ngay bên cạnh một đống gạch vụn. Cố Thành nghe tiếng tôi kêu cứu, lập tức chạy tới. Cậu ấy nhặt một cục gạch dưới đất, vừa vung vừa kéo tôi đứng dậy, dẫn tôi chạy vòng qua một cánh cổng sắt. Đến khi cả hai trốn được vào sân nhà người quen, đầu gối tôi đã trầy một mảng lớn, còn lòng bàn tay Cố Thành đã bị gạch cứa rách. Cậu ấy lấy khăn tay quấn qua loa vết thương của mình rồi ngồi xổm xuống, cẩn thận phủi bụi trên đầu gối tôi. Tôi vừa đau vừa sợ, nước mắt cứ chảy xuống. Tôi hỏi cậu ấy tại sao lại chạy tới, lỡ bị chó cắn thì sao. Cố Thành nhìn vết thương trên tay mình, rồi nhìn tôi, vẻ mặt chẳng có gì nghiêm trọng. Cậu ấy bảo rằng nếu tôi cứ đứng đó khóc, con chó sẽ quay lại mất, tốt nhất là mau đứng lên rồi về nhà. Tôi chỉ nhớ mình đã nắm chặt vạt áo Cố Thành suốt quãng đường về, còn cậu ấy đi chậm hơn thường ngày để tôi khỏi phải chạy theo. Sau đó, khi người lớn hỏi ai đã rủ tôi trốn học, Cố Thành nhận phần trách nhiệm về mình. Cậu ấy bị mắng một trận, còn tôi đứng bên cạnh, cúi đầu giả vờ hối lỗi, trong lòng chỉ thấy may mắn vì chuyện đã qua. Nhiều năm sau, mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn cho rằng mình và Cố Thành thân thiết đơn giản vì chúng tôi lớn lên cùng nhau. Tôi chưa từng nghĩ rằng trong những năm tháng ấy, cậu ấy đã nhiều lần bảo vệ tôi như thế, tự nhiên đến mức tôi xem đó là chuyện đương nhiên. Nhưng càng cố nhớ, tôi càng không thể hình dung được vẻ mặt Cố Thành khi ấy. Tôi không nhớ nổi vẻ mặt của cậu ấy, cũng chẳng thể hình dung giọng nói của cậu ấy lúc trấn an tôi. Tôi càng không thể nhớ lại cảm giác an tâm khi nắm chặt vạt áo cậu ấy như thể chỉ cần có Cố Thành bên cạnh, tôi sẽ chẳng còn phải sợ hãi điều gì. Những cảm xúc ấy giờ đây chẳng khác nào chuyện của một người xa lạ. Tôi nhớ được chuyện đã xảy ra nhưng không còn tìm thấy chính mình trong ký ức đó nữa. Nó chỉ còn là một dòng chữ khô khốc, vô hồn. Tôi dần quên mất món ăn Cố Thành thích nhất, quên cả lý do ngày trước mình từng tin tưởng hắn đến mức có thể giao phó mọi chuyện. Đêm nào tôi cũng có thêm những hiểu biết mới về phong thủy, những điều trước kia dù cố gắng đến đâu tôi cũng không thể lĩnh hội nhưng tâm hồn tôi trở nên trống rỗng, khô khốc như mảng tường vôi nứt nẻ. Đêm thứ năm ở Nam Kinh. Chúng tôi nhận lời khai quật một hộc tường bị phong kín bên trong căn nhà cổ họ Tô. Căn nhà đã bỏ hoang nhiều năm, đồ đạc phủ đầy bụi bặm. Giữa đại sảnh treo một chiếc gương đồng phong thủy thời Minh, quanh khung đóng ba cây đinh sắt lớn. “Đừng chạm vào chiếc gương.” Giọng Cố Thành vang lên từ phía sau. “Âm khí ở đây rất nặng.” “Cậu thì biết cái gì?” Tôi quay đầu quát hắn. “Chẳng qua chỉ là một chiếc gương dùng để trấn trạch, có gì đáng ngại? Đến chuyện này mà cậu cũng nhìn không ra, tốt nhất cứ đứng sang một bên đi. Để tôi xử lý.” Tôi cầm xà beng, nạy mạnh vào viền chiếc gương đồng. Rắc! Một luồng khí lạnh đột ngột tràn vào lồng ngực, ép tôi ngã ngửa xuống sàn. Tôi há miệng thở nhưng không khí như bị chặn lại giữa cổ họng. Trước mắt tôi, những bóng đen từ hốc tường trườn ra, hình thù biến đổi liên tục, lúc giống người, lúc chỉ còn là những khối thịt nhầy nhụa không rõ đầu đuôi. Rồi tiếng gào thét ập đến. Chúng vang lên từ khắp bốn phía, chồng chéo, đứt quãng, có tiếng khóc lóc, có tiếng cười khanh khách, có cả những âm thanh khàn đặc như ai đó đang cố hét lên từ dưới đáy giếng. Tôi đưa hai tay bịt tai, nhưng tiếng động vẫn xuyên thẳng vào đầu, khiến thái dương đau nhói. Thứ năng lực mà tôi từng cho là món quà trời ban giờ đây chỉ khiến tôi nhìn thấy rõ hơn từng khuôn mặt đang lao về phía mình. Tôi muốn nhắm mắt lại, nhưng những hình ảnh ấy đã in sâu vào tâm trí, không cách nào xua đi được. Tôi gào lên trong hoảng loạn, hai tay cào cấu xuống nền đá xanh, móng tay ma sát đến bật máu. Những bóng đen vẫn vây kín trước mắt, tiếng gào thét dồn dập khiến tôi gần như không còn phân biệt được đâu là thực, đâu là ảo. Đúng lúc tôi tưởng mình sắp phát điên, một bóng người bước ngang qua. Cố Thành đi thẳng đến trước hốc tường vỡ. Hắn lấy từ trong túi ra một chiếc hũ nhỏ đựng muối mỏ, rắc thành một đường ngang trước miệng hốc. Sau đó, hai tay hắn liên tiếp kết ba ấn quyết, chân giậm xuống nền đá hai nhịp dứt khoát. Bộp! Một tiếng động trầm đục vang lên. Làn khí đen đang cuồn cuộn tràn ra bỗng khựng lại, co rút về phía hốc tường rồi tan biến. Cảm giác lạnh buốt đè nặng trong phòng cũng theo đó biến mất, để lại đại sảnh im lìm cùng mùi ẩm mốc nồng nặc. Tôi nằm trên nền đá, thở hổn hển. Mồ hôi lạnh thấm đẫm lưng áo, hai bàn tay vẫn còn run rẩy. Tôi ngẩng đầu nhìn Cố Thành. Hắn đứng trước hốc tường, phủi lớp bụi bám trên tay áo, sắc mặt bình thản như thể vừa xử lý một chuyện chẳng đáng bận tâm. Ánh mắt hắn vẫn sắc lạnh, động tác vẫn chuẩn xác, không có lấy một dấu hiệu của sự suy kiệt mà tôi đã tận mắt chứng kiến suốt những ngày qua. Đến lúc ấy, tôi mới hiểu. Cố Thành chưa từng mất đi năng lực. Người sa sút chưa bao giờ là hắn. Trở về phòng khách sạn, cả căn phòng chìm vào im lặng. Tôi ngồi bên mép giường, cúi gằm mặt, hai bàn tay vẫn run lên từng chặp. Cảnh tượng trong căn nhà họ Tô cứ hiện đi hiện lại trong đầu. Mỗi lần nhớ đến khoảnh khắc Cố Thành giải quyết hậu quả do chính tôi gây ra, tôi lại thấy xấu hổ và sợ hãi. Cảm giác ấy đè nặng trong lòng, nhục nhã đến mức không dám ngẩng đầu nhìn hắn. Cố Thành thu dọn chiếc túi da, kiểm tra lại những món đồ bên trong rồi bước đến bàn trang điểm. Hắn cầm chiếc đĩa sứ chỉ còn lại lớp tàn tro của Hương Hoán Khả, nhìn qua một lượt rồi đặt xuống. Sau đó, hắn lấy từ trong túi ra một cuốn sổ bọc da đã cũ, đặt trước mặt tôi. Đó là cuốn sổ ghi chép riêng của Cố Thành. Tôi nhìn nó một lúc mới đưa tay cầm lên. Những ngón tay run rẩy lật mở trang đầu tiên. Nét chữ nghiêng quen thuộc hiện ra trước mắt, bên dưới là một dòng ghi chú từ ba năm trước: “Hương Hoán Khả - Độc dược tâm linh lưu truyền tại vùng Nam Kinh. Không có khả năng cướp đoạt tài năng hay vận may của người khác. Khói hương tác động trực tiếp vào hệ thần kinh, khiến kẻ sử dụng rơi vào trạng thái hưng phấn và sinh ra ảo tưởng quyền lực ngắn hạn. Cái giá phải trả: Nó thiêu rụi nhân tính, lòng trắc ẩn và những ký ức đẹp đẽ. Kẻ tham lam muốn chiếm đoạt ánh sáng của người khác, thực chất chỉ đang tự tay thiêu rụi chính tâm hồn mình.” Tôi chết lặng. Đầu óc tôi trống rỗng hoàn toàn. Thì ra ngay từ đầu, Cố Thành đã biết về Hương Hoán Khả. Cửa tiệm đó, thứ hương liệu đó, tất cả đều là một cái bẫy dành cho những kẻ tâm mang đố kỵ như tôi. Cả mấy tuần qua, sự sa sút của hắn, những lần phán đoán sai lệch, vẻ mặt hiện rõ trên khuôn mặt, tất cả đều là giả. Hắn chỉ đang lùi lại, tự bước lên vị trí mà mình hằng ao ước, tự nếm trải cảm giác được người khác ngưỡng mộ, tự bộc lộ những gì vẫn luôn giấu kín trong lòng. Có lẽ hắn đã chờ tôi nhận ra điều bất thường. Chờ tôi nhận ra sự biến chất của bản thân rồi tự tay dập tắt nén hương trước khi mọi chuyện đi quá xa. Nhưng tôi đã không làm vậy. Tôi dùng cơ hội hắn để lại cho mình để giẫm lên hắn, dùng thứ năng lực giả tạo ấy để thỏa mãn lòng kiêu ngạo, rồi từng chút một vứt bỏ những điều quý giá nhất mà bản thân từng có. Tôi ngẩng đầu nhìn Cố Thành. Nước mắt trào ra, nóng hổi lăn xuống gò má. Tôi muốn nói điều gì đó nhưng cổ họng nghẹn đắng, chẳng thể thốt nên lời. Cố Thành đứng bên cửa sổ, ánh mắt nhìn ra dòng sông Tần Hoài mờ ảo trong màn mưa đêm. Hắn không nổi giận, cũng chẳng trách móc tôi lấy một lời. Nếu hắn mắng tôi một trận, có lẽ tôi còn có thể tìm được điều gì đó để biện minh cho bản thân. Sự điềm tĩnh của hắn lúc này đối với tôi còn tàn nhẫn hơn cả hàng ngàn lời trừng phạt. Hắn bước đến bàn, cúi xuống nhìn đĩa sứ rồi dùng hai ngón tay nghiền tắt đốm than đỏ còn sót lại của Hương Hoán Khả. Sau đó, hắn kéo vali, xoay người đi về phía cửa. Khi tay đã đặt lên nắm cửa, hắn bỗng dừng lại. Hắn vẫn quay lưng về phía tôi, không ngoảnh đầu lại: “Đi bên cạnh tớ … cậu thấy mệt mỏi đến thế sao?” Tôi ngồi cứng đờ bên mép giường. Cố Thành mở cửa rồi bước ra ngoài. Cánh cửa khép lại sau lưng hắn, phát ra một tiếng cạch rất khẽ. Tôi ngồi lại một mình trong căn phòng tối, giữa mùi tàn hương khét đắng và cái lạnh cắt da len qua khe cửa sổ. Tôi cố nhớ lại mùa hè năm mười hai tuổi, nhớ khuôn mặt Cố Thành, nhớ tiếng cười của hắn. Nhưng càng cố, những hình ảnh ấy càng nhạt nhòa. Trong đầu tôi, những ký ức đẹp đẽ về tình bạn tuổi thơ đã cháy thành tro bụi, vĩnh viễn không bao giờ có thể tìm lại được nữa. Ngoài cửa sổ, mưa vẫn rơi trên dòng sông Tần Hoài.
Đã hết chương
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ