Chương 1: Người Đồng Nghiệp Khóc Vì Tôi Được Thêm Một Triệu Rưỡi

Ngày Hạ Vy nghỉ việc, Mỹ Dung nói với cả phòng rằng cô đã thắng. Tám năm sau, công ty phải trả gần nửa tỷ đồng để mời Hạ Vy quay lại. Tất nhiên, người ta không gọi đó là quay lại. Trên hợp đồng, cô là chuyên gia trưởng phụ trách chuyển đổi quy trình. Phía dưới tên cô có một chuỗi chức danh dài đến mức Mỹ Dung đọc được nửa dòng đã phải kéo ghế ngồi xuống. Cuộc họp diễn ra qua màn hình. Hạ Vy xuất hiện trong bộ vest màu kem, phía sau là logo của tập đoàn tư vấn mà công ty cũ phải xếp lịch hơn hai tháng mới mời được. Cô trình bày bình tĩnh, rõ ràng, thỉnh thoảng dừng lại để hỏi các phòng ban có theo kịp không. Mỹ Dung tắt camera, báo mạng yếu. Mạng không yếu. Chỉ có thể diện của cô đang mất kết nối. Tám năm trước, hai người ngồi cách nhau chưa đầy ba mét. Khi đó, Hạ Vy hai mươi sáu tuổi, chưa từng có một công việc văn phòng ổn định và vẫn tin rằng thông báo tuyển dụng là một loại văn bản pháp luật. Người ta ghi cần kinh nghiệm, cô không dám nộp. Người ta ghi ưu tiên ứng viên từng làm dự án, cô tự hiểu thành không có dự án thì xin mời biến khỏi cổng. Người ta ghi thành thạo phần mềm, cô nhìn danh sách chức năng dài như gia phả hoàng tộc rồi lặng lẽ đóng trình duyệt. Trong ba năm sau khi tốt nghiệp, Vy làm đủ việc thời vụ. Cô kiểm hàng cho siêu thị, ghi đơn cho cửa hàng gia dụng, phụ gia đình đối chiếu công nợ rồi tối về tính xem tháng này còn gửi được bao nhiêu tiền cho bố mẹ. Cô không biết những việc ấy cũng là kinh nghiệm. Vì không ai cấp cho chúng những cái tên đủ sang trọng. Theo dõi khách còn thiếu tiền thực chất là quản lý công nợ. So sánh hàng nhận với phiếu giao là đối chiếu chứng từ. Xử lý khách nổi giận vì giao nhầm sản phẩm là chăm sóc khiếu nại. Nhưng trong hồ sơ của Vy, tất cả được gom lại thành một câu khiêm tốn: “Phụ giúp công việc gia đình.” Cô làm gần đủ việc của một nhân viên vận hành, chỉ thiếu mỗi khả năng gọi chúng bằng tiếng Anh. Đầu năm ấy, một chị làm cùng ca hỏi: “Em học đại học mà sao cứ làm thời vụ hoài vậy?” Vy thành thật nói nơi nào cũng đòi kinh nghiệm. Người kia nhìn cô như nhìn một người đã đứng dưới biển báo “cửa tự động” suốt ba năm nhưng không biết phải bước tới. “Người ta cứ ghi vậy thôi. Em nộp đi. Cần thì vào họ dạy.” Câu nói kéo dài chưa đầy mười giây. Nó mở cánh cửa mà Vy đã tự đứng ngoài suốt ba năm. Tối hôm đó, cô gửi hồ sơ hàng loạt. Ban đầu còn đọc kỹ từng yêu cầu. Tới hồ sơ thứ mười lăm, cô đạt tới trạng thái giác ngộ, nhìn dòng “ưu tiên năm năm kinh nghiệm” rồi vẫn bấm nộp bằng khí thế của người không còn gì ngoài kết nối Internet. Một tuần sau, công ty Nam Phúc gọi cô phỏng vấn vị trí điều phối hồ sơ dự án. Nam Phúc cung cấp nội thất cho trường học, thư viện và các trung tâm đào tạo. Công việc gồm kiểm tra báo giá, chứng nhận vật liệu, điều kiện bảo hành, tiến độ giao hàng và hàng chục loại giấy tờ mà chỉ cần thiếu một tờ, cả bộ hồ sơ được chuẩn bị hai tháng có thể bị loại trong hai phút. Thông báo tuyển dụng yêu cầu kinh nghiệm dự án, khả năng đọc hợp đồng và sử dụng thành thạo phần mềm quản lý chứng từ. Vy chưa có thứ nào đúng tên. Cô chỉ có ba năm làm những việc gần giống nhưng luôn gọi chúng bằng những cái tên rất nghèo. Trong buổi phỏng vấn, trưởng phòng hỏi: “Em từng kiểm soát một đơn hàng lớn nhất bao nhiêu?” Vy đáp thật rằng cửa hàng gia đình từng nhập một lô trị giá bốn trăm triệu, cô là người kiểm tra số lượng, công nợ và lịch giao. “Có sai sót không?” “Nhà cung cấp giao thiếu mười hai bộ phụ kiện. Họ nói đã giao đủ nên em đối chiếu ảnh lúc nhận hàng với trọng lượng trên phiếu vận chuyển.” “Sau đó?” “Họ giao bù.” Trưởng phòng gật đầu. Hai ngày sau, Vy được nhận. Cô đọc thư mời năm lần. Đến lần thứ sáu, cô mới tin một công ty thực sự đồng ý trả tiền để cô ngồi trong văn phòng. Vy chuyển tới căn phòng trọ gần công ty, mua hai chiếc áo sơ mi mới và một đôi giày mà cô cho rằng trông đủ chuyên nghiệp. Sáng đầu tiên, cô đến sớm bốn mươi phút rồi đứng ngoài cổng mười phút vì sợ bảo vệ nghĩ mình nhiệt tình quá mức. Người bàn giao công việc cho cô tên Diễm, ít hơn cô một tuổi nhưng đã làm ở Nam Phúc gần bốn năm. Diễm chuẩn bị nghỉ thai sản và không định quay lại. Cô chỉ cho Vy cách phân loại giấy tờ bằng một hệ thống được truyền qua nhiều đời nhân viên bằng trí nhớ, màu bìa và niềm tin. “Hồ sơ trường tư bỏ vào thư mục xanh.” “Nếu nhà cung cấp trùng tên thì nhìn địa chỉ.” “Mã nào bị tô đỏ thì sửa bằng tay.” “Cuối tháng em mở từng tập kiểm tra.” “Nếu thấy một con số có vẻ lạ thì hỏi chị Dung.” Vy vừa nghe vừa ghi. Cô có một nguyên tắc rất sớm: khi người khác đang chỉ việc, đừng hỏi theo kiểu thách thức họ. Có thể họ không biết vì sao quy trình vận hành như vậy. Có thể câu hỏi của mình làm mất thời gian. Cũng có thể họ đã dành nhiều năm học những thứ mình đang được trao miễn phí. Vy không muốn làm người giúp mình bẽ mặt. Về sau cô mới phát hiện cả công ty không có nguyên tắc tương tự khi đối xử với cô. Hai tuần sau, Diễm tuyên bố đã bàn giao hết rồi nghỉ. Vy nhìn ba tủ hồ sơ, bảy bảng theo dõi và gần bốn nghìn dòng dữ liệu chưa được kiểm tra, không hiểu chữ “hết” của Diễm được dùng theo nghĩa nào. Có lẽ theo nghĩa hết giờ. Những ngày đầu, Vy làm chậm đến mức nghe được tiếng tuổi trẻ rời khỏi cơ thể. Mỗi mã sản phẩm phải dò bằng mắt. Nhà cung cấp trùng tên phải mở từng hồ sơ xem địa chỉ. Chứng nhận sắp hết hạn nằm chung với chứng nhận còn hiệu lực, yên bình như một gia đình không có tranh chấp thừa kế. Cô được dặn phải cẩn thận. Không ai giải thích làm thế nào để cẩn thận với bốn nghìn dòng dữ liệu ngoài việc nhìn chăm chú hơn. Thế là Vy bắt đầu học. Có nhà cung cấp trùng tên, cô đặt quy tắc nhận diện thêm bằng mã số thuế. Có chứng nhận sắp hết hạn, cô tạo cảnh báo trước ba mươi ngày. Có vật liệu bị thay đổi giá, cô làm bảng so sánh giữa báo giá mới và lịch sử mua. Có hồ sơ thiếu giấy tờ, cô thiết kế danh sách kiểm tra bắt buộc, thiếu một mục thì trạng thái không thể chuyển sang “hoàn tất”. Mỗi vấn đề dạy cô một kỹ năng. Mỗi lần sai mở thêm một cánh cửa. Kho dữ liệu cũ trở thành trường đại học thứ hai của Vy. Chỉ khác trường đại học này không có giảng viên, không có giáo trình và nếu thi trượt thì công ty mất tiền thật. Ba tháng sau, thời gian kiểm tra một bộ hồ sơ giảm gần một nửa. Sai sót không biến mất, nhưng chúng bắt đầu bị phát hiện trước khi tới tay khách hàng. Sếp trực tiếp của Vy là ông Trịnh, một người có kinh nghiệm mua hàng và thi công lâu năm. Ông có thể nhìn một chiếc ghế mẫu rồi nói được phần khung nào dễ cong sau sáu tháng, nhưng mỗi khi mở phần mềm quản lý, vẻ mặt ông giống người vừa bị mời điều khiển tàu ngầm. Ông biết hồ sơ có vấn đề vì kinh nghiệm nói với ông rằng kết quả không hợp lý. Còn vấn đề nằm ở dòng nào, trường dữ liệu nào, quy tắc nào, ông không biết. Một lần, ông đưa Vy bảng báo giá rồi nói: “Chỗ này sai. Em tìm xem sai ở đâu.” “Dạ, sai phần nào ạ?” “Nếu tôi biết thì tôi đã chỉ em rồi.” Vy thấy câu ấy hợp lý một cách đáng sợ. Cô kiểm tra và phát hiện không phải một chỗ sai mà cả hệ thống đang dùng mức chiết khấu cũ. Một vài nhà cung cấp đã thay chính sách từ nửa năm trước nhưng dữ liệu không được cập nhật đồng bộ. Vy sửa toàn bộ. Cô vẫn tin ông Trịnh sẽ kiểm tra được mình sửa đúng hay không. Ông Trịnh cũng tin Vy đã sửa thì chắc là đúng. Một người mù hệ thống và một người mới học hệ thống trao cho nhau niềm tin tuyệt đối, rồi cùng bước về phía trước bằng tinh thần của hai người đang khiêng một chiếc tủ nhưng không ai nhìn thấy cầu thang. May mắn là lần đó họ không ngã. Thấy Vy ngày càng bận, ông Trịnh tuyển thêm một nhân viên tên Phúc để nhận mẫu, chụp ảnh sản phẩm và cập nhật tình trạng giao hàng. Trên lý thuyết, Phúc được tuyển để giảm việc cho Vy. Trong thực tế, Vy phải dạy Phúc nhận đúng mã hàng, kiểm tra lại ảnh anh chụp, sửa tên tệp anh đặt sai, gọi xin lỗi nhà cung cấp khi anh trả lời nhầm và tìm những mẫu sản phẩm anh để ở nơi chỉ một mình anh nhớ. Công ty thấy Vy đang gánh một tảng đá nên hào phóng tặng cô thêm một người chưa biết cách đặt chân xuống đất. Phúc thích đặt tên tệp theo cảm xúc. Một chiếc bàn mẫu có thể được lưu thành “banmoi.jpg”. Phiên bản sửa thành “banmoi2.jpg”. Phiên bản cuối là “banmoi2chuan.jpg”. Phiên bản cuối thật sự là “banmoi2chuanmoinhat.jpg”. Đến khi có hai mươi ba chiếc bàn mới, kho hình ảnh trông như nhật ký của một người đang mất dần niềm tin vào khái niệm cuối cùng. Vy đặt lại quy tắc tên tệp, hướng dẫn Phúc ghi mã sản phẩm, ngày chụp và phiên bản. Phúc khen cô giỏi. Sau đó vẫn đặt tên tệp là “banmoi2chuanmoinhat_final.jpg”. Một đồng nghiệp người Hoa tên Thiệu thấy Vy thường phải kéo xe hồ sơ sang kho lưu trữ ở tòa nhà bên cạnh nên đề nghị Phúc đi cùng. Khu đó vắng, xe tài liệu nặng, mọi người đều thấy như vậy hợp lý. Vy không thích lệ thuộc vào người khác nhưng khó từ chối một lời đề nghị được công khai dưới danh nghĩa quan tâm. Cô cảm ơn. Rồi tiếp tục làm việc. Trong khoảng thời gian ấy, Vy thân với Thiệu, Phúc, Mỹ Dung và một nhân viên kiểm định tên Lan Chi. Đây là công việc văn phòng đầu tiên của cô. Sau những năm làm thời vụ, lần đầu tiên cô có một chiếc bàn riêng, một nhóm ăn trưa và những người biết cô thích món gì. Vy trân trọng tất cả hơi quá mức. Cô tự làm sổ tay tặng Thiệu và Dung. Tiền lương chưa cao, cô còn phải gửi về gia đình, nhưng vẫn mua giấy, dây, phụ kiện rồi ngồi cắt dán nhiều tối. Lan Chi thường làm mất bút khi đi kiểm hàng, Vy mua nguyên một hộp, mỗi tuần để lên bàn bạn vài cây. Khi Dung nghỉ, Vy xử lý hồ sơ giúp. Khi Thiệu về quê, cô trả lời nhà cung cấp thay. Khi Phúc chưa kịp cập nhật ảnh, cô ở lại làm nốt. Sau khi tối ưu được công việc của mình, Vy thường hỏi Dung: “Chị có gì cho em phụ không?” Câu hỏi ấy về sau trở thành sai lầm đắt nhất, vì một khi bạn nhiều lần tự nguyện cứu người khác, họ sẽ nhanh chóng quên đó là sự giúp đỡ. Họ bắt đầu xem đó là tính năng mặc định. Mỹ Dung hơn Vy sáu tuổi. Cô từng làm ở bộ phận trực tổng đài rồi được dì ruột là trưởng phòng hành chính chuyển sang nhóm hồ sơ. Dung không giỏi phần mềm, không biết ngoại ngữ và thường lúng túng với những bảng dữ liệu dài. Nhưng cô có một kỹ năng mà không khóa đào tạo nào dạy được. Cô biết chính xác phải mềm với ai, cứng với ai, khóc trước mặt ai và kể câu chuyện cho người nào trước để phiên bản của mình trở thành phiên bản chính thức. Dung không hoàn toàn lười. Cô có thể làm rất chăm chỉ nếu công việc tạo ra hình ảnh chăm chỉ. Cô thích mang những chồng giấy lớn đi qua hành lang, thích thở dài trong cuộc họp và thường xuyên nói: “Chị làm ở đây bao nhiêu năm rồi, cái gì chị cũng từng trải qua.” Nhưng khi Vy đề nghị chuẩn hóa dữ liệu để giảm nhập tay, Dung không muốn học. Cô nói: “Chị quen làm cách cũ.” Vy không ép. Cô nghĩ mỗi người có phương pháp riêng. Mấy tháng đầu, quan hệ giữa họ rất tốt. Dung nhận quà Vy làm, nhờ cô kiểm tra hồ sơ và thường kể chuyện gia đình. Một lần, Dung còn ôm vai Vy nói: “Em vào sau nhưng chị coi như em gái.” Vy cảm động. Sau này cô mới hiểu trong vài môi trường, “em gái” có nghĩa là người được phép làm nhiều hơn nhưng không được phép nhận nhiều hơn. Biến cố đầu tiên xảy ra với một gói thầu lớn. Ông Trịnh thay đổi tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp dựa trên thông tin mình hiểu từ cuộc họp với ban giám đốc. Ông giải thích cho Vy bằng những câu ngắn, nửa chuyên môn, nửa phỏng đoán. Vy hỏi lại vài lần nhưng hai người vẫn hiểu nhau theo hai hướng khác nhau. Ông Trịnh đi công tác gần hai tuần. Vy áp dụng tiêu chuẩn mới. Ba ngày sau, các nhà cung cấp phát hiện nhiều đơn hàng bị điều chỉnh mức chiết khấu và thời hạn thanh toán. Điện thoại reo liên tục. Một đối tác kéo người tới tận công ty, đặt xấp hợp đồng xuống bàn, yêu cầu giải thích. Có người đập tay vào tủ. Có người dọa dừng giao hàng đúng lúc ba trường học sắp khai trương. Vy chưa từng đối diện cảnh đó. Cô ngồi giữa phòng họp, hai bàn tay lạnh ngắt, vừa sợ mình gây thiệt hại, vừa không biết sai bắt đầu từ yêu cầu của ông Trịnh, cách cô hiểu hay dữ liệu có sẵn. Mọi người chỉ biết quyết định được cập nhật từ tài khoản của Vy. Trong mắt họ, cô là người lấy tiền khỏi túi họ. Trong mắt Vy, cô chỉ là người làm theo tiêu chuẩn mà cấp trên yêu cầu. Ngày thứ hai, một nhà cung cấp giận dữ hất cả tập tài liệu xuống sàn. Vy cúi xuống nhặt. Không phải vì cô nhận lỗi. Chỉ là nếu không nhặt, lát nữa vẫn có người phải nhặt, và người đó nhiều khả năng vẫn là cô. Khi ông Trịnh quay lại, cấp trên chỉ trích ông nặng nề. Thiệt hại đã phát sinh, tiến độ bị ảnh hưởng và vài mối quan hệ suýt đổ vỡ. Ông có rất nhiều cơ hội để nói nhân viên mới hiểu sai. Ông không nói. Ông nhận trách nhiệm đã truyền đạt không rõ, trực tiếp gặp từng nhà cung cấp và không để ai quy tội cho Vy. Sau đó, ông họp riêng với cô. “Tôi nói sai ý.” “Em cũng không kiểm tra lại đủ.” “Em mới vào. Người quyết định là tôi.” Ông Trịnh không biết nhiều về phần mềm. Nhưng ông biết trách nhiệm phải đi theo hướng nào. Từ hôm ấy, Vy thật sự kính trọng ông. Tổng giám đốc đưa ra tiêu chuẩn mới. Vy sửa lại toàn bộ hệ thống, thêm bước xác nhận bằng văn bản để không ai phải đoán ý cấp trên thêm lần nữa. Cô trưởng thành rất nhanh sau sự cố đó. Cũng chính vì cùng nhau trải qua những ngày căng thẳng, Vy càng gắn bó với mọi người. Cô tưởng mình đã có một tập thể. Rồi một triệu rưỡi xuất hiện. Ngày ấy, phòng nhân sự gửi nhầm bảng phân bổ phụ cấp dự án vào máy in chung. Dì của Mỹ Dung lấy tài liệu trước và nhìn thấy Vy được hưởng thêm một triệu rưỡi mỗi tháng vì phụ trách kiểm soát hồ sơ các gói thầu lớn. Tổng thu nhập của Vy cao hơn Dung. Không nhiều tới mức thay đổi đời người. Nhưng đủ để thay đổi bộ mặt một căn phòng. Dung biết tin vào buổi trưa. Mười phút sau, cô khóc. Hai mươi phút sau, cả phòng biết. Bốn mươi phút sau, Dung đã đứng trước phòng tổng giám đốc. Cô không hỏi vì sao mình chưa được phụ cấp. Không trình bày thành tích để chứng minh mình xứng đáng. Cô chỉ lặp đi lặp lại: “Nó mới vào chưa được một năm. Tại sao nó được nhiều hơn tôi?” Chữ “nó” xuất hiện nhanh hơn toàn bộ số quà handmade Vy từng làm. Những lần Vy làm thay khi Dung nghỉ cũng biến mất. Những bộ hồ sơ Vy cứu khỏi sai sót không còn tồn tại. Những cảnh báo cô xây, dữ liệu cô chuẩn hóa và đêm cô ngồi một mình đối diện nhà cung cấp đang nổi giận đều bốc hơi. Trước một triệu rưỡi, ký ức của Mỹ Dung được tối ưu rất hiệu quả. Người ta hỏi Dung có muốn nhận thêm phần việc để được xét phụ cấp hay không. Dung khóc lớn hơn. Cô không muốn công việc. Cô chỉ không muốn Vy có quyền lợi. Đó là một nguyên tắc rất phổ biến ở những người không thật sự muốn leo lên. Họ chỉ muốn người bên cạnh bị kéo xuống. Dung dọa nghỉ việc. Dì cô chạy khắp nơi nói cháu mình đã cống hiến nhiều năm. Một vài đồng nghiệp quay sang nhìn Vy như thể cô tự tay lấy một triệu rưỡi từ túi Dung rồi dùng nó đặt đồ ăn trưa. Vy hoảng. Cô không nghĩ tới bằng cấp, năng lực hay phạm vi trách nhiệm. Cô chỉ sợ mọi người ghét mình. Đây là tập thể đầu tiên cô từng yêu quý. Cô không muốn vì tiền mà mất họ. Cô thậm chí còn tự hỏi có nên xin công ty cắt phụ cấp hay không. May mắn là cô chưa kịp nói. Nếu nói ra, có lẽ nhiều năm sau mỗi khi nhớ lại, chính cô cũng phải quay về quá khứ để tát mình. Vụ việc kéo dài gần một tháng. Cuối cùng, Dung không nghỉ. Có lẽ công ty tăng cho cô một khoản nào đó, hoặc người dì đã thương lượng được một quyền lợi khác. Bề ngoài, mọi chuyện kết thúc. Bên trong, chiếc bàn ăn trưa đã đổi chỗ. Những người từng cười nói với Vy bắt đầu lập nhóm riêng. Họ hẹn cô rồi đổi địa điểm mà không báo. Trong cuộc trò chuyện chung, khi Vy lên tiếng, câu chuyện thường im đi một nhịp. Không ai thừa nhận đang cô lập cô. Họ chỉ phối hợp đủ đều để sự trùng hợp có tính tổ chức. Vy khi ấy thường uống cà phê đặc, ngủ ít và dùng thuốc giảm đau gần như mỗi ngày. Thần kinh căng như sợi dây kéo quá mức. Có lần, mọi người hẹn đợi cô cùng đi ăn. Vy làm xong, xuống sảnh mới biết họ đã đi trước. Cô quay lại bàn và khóc. Cô không khóc vì một bữa trưa. Cô khóc vì hiểu rằng mình đang bị trục xuất khỏi nơi từng tưởng là nhà, nhưng mọi người vẫn đủ lịch sự để bắt cô tự nghi ngờ liệu cuộc trục xuất có thật hay không. Không lâu sau, Vy sốt nặng. Cô nằm một mình trong phòng trọ, gần như không ăn nổi. Thiệu, Dung và vài người cùng phòng tới thăm, mang theo trái cây và sữa. Dung đặt túi xuống, nhìn Vy rồi nói: “Em ráng khỏe sớm nhé. Bộ hồ sơ bên trường Nam Sơn đang nằm nguyên trên bàn, không ai biết mở từ đâu.” Nghe rất quan tâm. Nhưng người Dung nhớ không phải Hạ Vy. Cô nhớ một chức năng của công ty đang tạm ngừng hoạt động. Khi Vy trở lại, giấy tờ đúng là chất thành đống trên bàn. Không ai xử lý giúp một phần nào. Trước đây, khi Dung nghỉ, Vy mở hồ sơ của Dung và làm thay. Khi Vy nghỉ, mọi người bảo quản nguyên vẹn công việc của cô như một di tích lịch sử, chờ chủ nhân hồi sinh trở về khai quật. Cùng lúc đó, Phúc nói từ nay không thể đi cùng Vy sang kho lưu trữ nữa vì bạn gái không thích. Vy không phản đối. Cô chưa bao giờ yêu cầu anh đi cùng. Nhưng Phúc kể chuyện theo cách khiến mọi người hiểu rằng trước đây Vy luôn cần anh hộ tống. Một nghĩa vụ người khác tự đề nghị bỗng biến thành sự lệ thuộc của cô. Vy vừa phải tự kéo xe hồ sơ, vừa phải lo người ta nghĩ cô từng bám lấy một người đàn ông đã có bạn gái. Tối hôm đó, cô đợi mọi người về hết. Rồi nộp đơn xin nghỉ. Ông Trịnh đọc xong, gọi cô vào phòng. “Tại sao?” “Em cảm thấy mình không thể tiếp tục làm tốt công việc.” “Tôi tăng lương.” “Không phải vì lương.” “Chuyển em sang nhóm khác?” Vy lắc đầu. Ông hỏi nhiều lần. Cô không kể. Một phần vì không muốn khóc trước mặt ông. Một phần vì không muốn biến câu chuyện thành một cuộc tố cáo mà ở đó mỗi người đều có thể phủ nhận từng chi tiết nhỏ. Và một phần rất lớn vì Vy lúc ấy vẫn quen bảo vệ thể diện người khác hơn quyền lợi của mình. Hai tuần sau, ông Trịnh vẫn chưa tuyển được người. Vy chủ động hỏi Mỹ Dung có muốn học phần việc để tiếp quản không. Dung lập tức từ chối. “Việc đó phức tạp lắm, chị không rành.” Phúc cũng lắc đầu. “Em chỉ phụ trách mẫu với hình ảnh thôi.” Ông Trịnh nhìn hai người. “Nếu không ai làm được việc của Vy, căn cứ nào nói phụ cấp của cô ấy là bất công?” Căn phòng im lặng. Sự im lặng lần này không có tình cảm sâu kín gì cả. Nó chỉ là lúc lòng đố kỵ va phải bản mô tả công việc. Vy vẫn dành những ngày cuối để viết cẩm nang bàn giao. Cô giải thích từng loại chứng từ, từng bước kiểm tra, từng cảnh báo. Cô quay video hướng dẫn cách tìm sai lệch, ghi rõ nhà cung cấp nào thường gửi thiếu giấy tờ và để lại danh sách các lỗi phổ biến. Cô trao cho người sau thứ mà lúc mới vào cô chưa từng được nhận. Mỹ Dung nhìn tập tài liệu dày rồi cười: “Có mấy cái hồ sơ mà em viết dài như luận văn.” Vy không đáp. Cô biết Dung sẽ đọc. Chỉ là chưa tới ngày phải đọc thôi. Ngày cuối cùng, Thiệu gửi thư tạm biệt. Trong thư, anh nói Vy có năng lực nhưng đôi khi quá để ý chuyện hơn thua với Dung, khiến không khí trong phòng căng thẳng. Vy đọc câu ấy ba lần. Dung là người khóc lóc đến phòng tổng giám đốc vì cô được thêm một triệu rưỡi. Nhưng trong bản tổng kết của Thiệu, người hơn thua lại là Vy. Người gây ồn ào đã giành được quyền kể chuyện. Người im lặng bị dùng làm chỗ chứa lỗi. Vy đóng thư lại. Lần đầu tiên, cô không trả lời. Ba tuần sau khi nghỉ, Phúc gọi điện. “Chị Vy, cái bảng cảnh báo chứng nhận em mở không chạy.” Vy vẫn hướng dẫn. Cô chỉ cho anh từng bước, nghe anh loay hoay gần bốn mươi phút rồi mới cúp máy. Không phải vì cô muốn quay lại. Chỉ là đạo đức nghề nghiệp trong người Vy phát triển quá khỏe, thường xuyên lấn át bản năng tự bảo vệ. Người ta đã đẩy cô ra khỏi cửa. Cô vẫn đứng bên ngoài hướng dẫn họ khóa cửa cho đúng. Cùng thời gian đó, Vy được nhận vào một công ty tư vấn chuỗi cung ứng với vị trí chuyên viên kiểm soát quy trình. Ngày đầu tiên, quản lý mới yêu cầu cô trình bày hệ thống từng xây ở Nam Phúc. Vy mở toàn bộ bảng cảnh báo, quy tắc đối chiếu và danh sách kiểm tra. Ở công ty cũ, mỗi lần cô trình bày những thứ ấy, mọi người đều khen cô giỏi. Người quản lý mới xem xong rồi hỏi: “Tại sao em chờ người ta nhập sai mới cảnh báo?” Vy khựng lại. “Dạ?” “Nếu một giá trị không hợp lệ, tại sao hệ thống vẫn cho phép nó đi vào? Có thể thiết kế quy trình để lỗi không được sinh ra ngay từ đầu không?” Một câu hỏi khiến toàn bộ niềm kiêu hãnh nghề nghiệp của Vy nằm xuống rất trật tự. Ở Nam Phúc, cô là người giỏi nhất phòng vì biết tìm lỗi. Ở đây, người ta thiết kế hệ thống để lỗi không có cơ hội tồn tại. Ngày hôm đó, Vy xấu hổ. Ngày hôm sau, cô phấn khích. Cô nhận ra trước mặt mình không phải cái ao khác. Đó là biển. Vy học quản trị quy trình, tự động hóa, phân tích dữ liệu, kiểm soát rủi ro và quản lý nhà cung cấp. Cô gặp những đồng nghiệp giỏi hơn mình rất nhiều. Thay vì cố kéo cô xuống, họ hỏi cô muốn học gì. Lần đầu tiên, Vy hiểu cảm giác phải chạy hết sức không phải vì bị ai đuổi phía sau, mà vì phía trước có quá nhiều nơi đáng tới. Ba năm sau, cô trở thành trưởng nhóm cải tiến vận hành. Năm năm sau, hệ thống do nhóm cô thiết kế được áp dụng tại mười hai nhà máy. Năm thứ bảy, Vy đứng trên sân khấu của một hội nghị chuyên ngành, trình bày trước hàng trăm quản lý vận hành. Cô nói: “Tôi bắt đầu sự nghiệp trong một căn phòng nơi mọi sai sót đều được sửa bằng trí nhớ của một vài người. Vì thế, tôi luôn tin rằng hệ thống tốt không nên bắt con người phải trở thành siêu nhân mới vận hành được.” Sau bài thuyết trình, một tập đoàn mời cô làm giám đốc chuyển đổi quy trình khu vực. Cô không quay lại Nam Phúc để trả thù. Cô bận. Còn tại Nam Phúc, người đầu tiên được tuyển thay Vy nghỉ sau ba tuần. Người thứ hai yêu cầu mức lương cao hơn Vy ngày trước gần gấp đôi. Mỹ Dung phản đối: “Người mới chưa đóng góp gì mà đòi nhiều như vậy?” Không ai nhắc cô từng nổi giận vì lý do hoàn toàn ngược lại. Vì chưa tìm được người, công ty giao phần việc cho Dung và cộng thêm phụ cấp trách nhiệm. Cuối cùng, cô cũng có được khoản tiền từng tranh giành. Ngày đầu tiên, Dung mở cẩm nang Vy để lại rồi cười: “Viết gì mà dài dòng.” Ngày thứ ba, cô đọc từ đầu. Ngày thứ năm, cô bắt đầu đánh dấu. Ngày thứ bảy, một bộ hồ sơ bị loại vì cô dùng chứng nhận đã hết hạn. Công ty mất tiền đặt cọc và phải giải trình với khách hàng. Dung nói hệ thống của Vy quá phức tạp. Ông Trịnh mở bảng theo dõi, chỉ vào ô đỏ giữa màn hình. Trong ô ghi rõ: CHỨNG NHẬN ĐÃ HẾT HẠN. KHÔNG ĐƯỢC SỬ DỤNG. Ông hỏi: “Nó viết chữ in hoa, tô đỏ và bật cảnh báo. Cô còn muốn nó thuê người đứng cạnh đọc thành tiếng à?” Dung im lặng. Một tháng sau, cô xin trả lại phụ cấp và phần việc. Công ty không đồng ý vì chưa có người thay. Khoản phụ cấp cô từng chiến đấu để giành được cuối cùng trở thành tiền thuê cô chịu đựng chính công việc mà cô đã khẳng định Vy không xứng đáng được trả thêm. Phúc cũng không khá hơn. Không còn Vy sửa tên tệp, anh gửi nhầm ảnh của dòng sản phẩm giá rẻ vào hồ sơ cao cấp. Khách hàng hỏi tại sao chiếc bàn được báo giá mười tám triệu lại giống mẫu đang bán khuyến mãi sáu triệu. Phúc nói do hình ảnh minh họa. Khách hàng nói họ không có nhu cầu trả thêm mười hai triệu cho trí tưởng tượng. Mỗi khi có lỗi, mọi người lại mở cẩm nang của Vy. Tập tài liệu từng bị Dung gọi là luận văn dần quăn góc, đầy ghi chú và được bọc thêm một lớp nhựa bên ngoài. Không ai còn chê nó dài. Người sắp chết đuối hiếm khi phàn nàn hướng dẫn sử dụng phao có nhiều chữ. Nhiều năm trôi qua, Dung vẫn ở nguyên vị trí đó. Các nhân viên mới vào ngày càng trẻ, biết nhiều công cụ hơn và đặt những câu hỏi cô không trả lời được. Cô không bị sa thải. Đó mới là phần cay đắng. Nếu bị sa thải, có thể Dung buộc phải học lại hoặc tìm một con đường khác. Nhưng nhờ quan hệ của người dì, cô được giữ lại, tiếp tục làm công việc mình không thích, trong môi trường không còn đủ vùng mù để che giấu năng lực. Năm này qua năm khác, cô không rơi xuống. Cô chỉ không đi lên. Rồi Nam Phúc quyết định thuê một đơn vị tư vấn để thay toàn bộ hệ thống quản lý hồ sơ. Bản đề xuất được gửi tới ban giám đốc. Trang đầu là ảnh Hạ Vy. Mỹ Dung nhận ra ngay. Trong ảnh, Vy không còn là cô gái nói nhỏ, sợ mất lòng và luôn hỏi người khác có việc gì cho mình phụ không. Bên dưới tên cô là chức danh chuyên gia trưởng, danh sách dự án và các chứng chỉ Dung phải đọc đến dòng thứ tư mới hiểu được một nửa. Buổi họp đầu tiên diễn ra trực tuyến. Vy xuất hiện, giới thiệu đội dự án rồi trình bày kế hoạch. Giọng cô bình tĩnh, không nhanh, không chậm, hoàn toàn không có dấu hiệu muốn chứng minh điều gì với bất kỳ ai trong căn phòng cũ. Cô nhận ra ông Trịnh và mỉm cười chào. Cô nhìn thấy Thiệu, Phúc và Dung trong danh sách người tham dự. Nếu có nhận ra họ, vẻ mặt cô cũng không thay đổi. Dung tắt camera, báo mạng yếu. Cuối buổi, ông Trịnh nhắn riêng: “Ngày trước tôi không giữ được em. Bây giờ muốn mời em về chắc công ty không đủ khả năng nữa rồi.” Vy trả lời: “Em vẫn biết ơn thời gian ở Nam Phúc. Nhờ những vấn đề ngày ấy, em mới biết mình thích xây hệ thống.” Cô nói thật. Không mỉa mai. Không hỏi Dung sống thế nào. Không nhắc khoản phụ cấp từng khiến cả phòng quay lưng với mình. Đó mới là cú đánh cuối cùng. Dung đã giữ Vy trong câu chuyện của mình suốt tám năm như một đối thủ. Còn trong câu chuyện của Vy, Dung chỉ là một sự cố nghề nghiệp đã được đóng hồ sơ từ rất lâu. Tối hôm đó, Vy về nhà, mở máy tính xem lại lịch làm việc ngày mai. Cô không nhớ chính xác ngày trước mình được thêm bao nhiêu tiền. Cũng không còn nhớ Dung đã khóc những câu nào trước phòng tổng giám đốc. Nhưng cô vẫn nhớ những thứ học được tại Nam Phúc. Cô gõ bàn phím số cực nhanh, gần như không cần nhìn. Cô vẫn giữ bản cẩm nang đầu tiên, dù bây giờ bên trong còn đầy những cách làm non nớt. Cô cũng nhớ mẹo ông Trịnh từng dạy: không giao liên tiếp những mẫu có bao bì quá giống nhau cho cùng một nhóm kiểm tra, vì mắt người sau khi nhìn lặp lại quá lâu sẽ tự bỏ qua khác biệt. Vy chưa bao giờ phủ nhận giá trị của nơi cũ chỉ vì nơi đó từng làm mình đau. Cô chỉ học được rằng biết ơn không đồng nghĩa phải ở lại mãi trong một căn phòng quá thấp. Ngày trước, Mỹ Dung tưởng mình đã thắng khi khiến Vy rời đi. Cô ta không biết có những người bị đẩy ra khỏi cửa sẽ ngã xuống. Cũng có những người vừa bước ra mới phát hiện bên ngoài là cả một bầu trời. Còn những người ở lại vẫn ngồi trong căn phòng cũ, ngày ngày mở cẩm nang Vy để lại, chật vật vận hành một hệ thống mà họ từng cho rằng ai cũng có thể làm. Họ đã thành công trong việc khiến Hạ Vy rời đi. Chỉ là không ai cảnh báo họ rằng cô chính là người duy nhất biết cách giữ mọi thứ ở lại.
Đã hết chương
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ