Bảy giờ bốn mươi hai, Keeper đã đứng trước kho ảnh dân sự. Cửa kính chưa mở, bên trong một chiếc xe chở khung ảnh cũ đang lăn qua hành lang. Kim đồng hồ nhích từng phút; hôm qua anh đã hứa sẽ đến trước Iris. Chuyện ấy không đáng ghi vào sổ, nhưng hôm nay anh muốn giữ lời.
Iris tới sau ba phút, tóc buộc gọn. Lọn tóc thường tuột xuống má đã được ghim vào sau tai, khiến Keeper phải nhìn hai lần mới nhận ra điều khác biệt.
“Anh định đứng đây canh cửa tới tám giờ?” cô hỏi.
“Tôi định bắt đầu buổi sáng bằng một chiến thắng nhỏ. Cô tới sớm hơn dự kiến, nhưng vẫn muộn hơn tôi.”
Iris kiểm giờ trên cổ tay. “Ba phút. Lần này anh đã đến trước tôi.”
Cô lấy ảnh chụp của Margaret ra khỏi túi hồ sơ, kiểm lần cuối tờ xác nhận sử dụng ảnh. Họ chưa kịp nói thêm thì một người phụ nữ đẩy cửa từ trong ra, một tay cầm chìa khóa, tay kia xách thùng giấy rỗng. Ngón cái chị có một vệt mực xanh.
“Các anh chị tìm bảng tiếp xúc của bộ khảo sát bờ sông?” chị hỏi. “Tôi là Sophie. Cho tôi năm phút mở phòng đọc. Bên giao khung triển lãm đến sớm, mà hôm qua họ bỏ một chiếc chặn cửa vào thùng ảnh.”
Keeper giữ giúp cánh cửa khi Sophie kéo thùng qua ngưỡng. Anh không đụng vào những khung ảnh xếp bên trong; chỉ đẩy xe khỏi lối người đi. Một người đàn ông từ phòng bên gọi Sophie, hỏi có thể giao trọn bảng tiếp xúc cho nhóm sinh viên đến vào buổi chiều hay không.
“Nếu họ chịu xem bản sao,” Sophie đáp, vẫn cúi tìm chùm chìa khóa. “Cuộn gốc không tự mọc lại chỉ vì hôm nay có ba nhóm cùng hẹn.”
Sophie quay sang Keeper và Iris. “Hai người cứ xem cả dãy ảnh với tôi đã. Một tấm cắt ra khỏi cuộn dễ làm người ta nhìn nhầm lắm. Còn tên đứa trẻ thì tôi không dám hứa sẽ tìm được đâu.”
Iris đưa Sophie bản chụp được Margaret cho phép dùng. “Chúng tôi cần biết bức ảnh này thuộc cuộn nào trước.”
Sophie đưa hai người qua quầy. Kho ảnh không giống các phòng bảo quản ở Kho Lưu Trữ: bản đồ treo cạnh lịch cho mượn phòng, một góc dành cho ảnh cưới của những gia đình tự nguyện gửi vào thư viện thành phố, bên kia là dãy ngăn cuộn phim có mùi gỗ và giấy cũ. Người ta vẫn đến đây để tìm một con phố trước khi bị phá, một tấm biển hiệu của người thân, hoặc góc sân trường không ai nhớ đã chụp vào năm nào.
Sophie đặt bản chụp Margaret cho phép sử dụng dưới kính soi. “Mặt sau: bốn mươi hai B. Cũng có thể là tám viết dở. Các bộ khảo sát khu ven sông thường dùng hai kiểu đánh số, mà có người đổi quy tắc ngay giữa một chuyến chụp.”
Chị mở danh mục ba bộ ảnh gần đúng. Mái nhà trong ảnh dẫn họ đến một bộ có những khung chụp cùng dải bờ nước. Nhưng Sophie không kéo thẳng tới khung thứ sáu. Chị so cạnh giấy, chiều vệt cắt và nét chì ở ba khung đầu, để Keeper tự thấy vì sao bộ ấy đáng kiểm.
Sophie lật mép tấm ảnh dưới kính. “Chỗ rìa này bị cắt mất chữ rồi. Tôi tìm được cả bộ ảnh giống nó, nhưng ai sao của ai trước thì phải lục thêm phiếu.”
Từ ngoài hành lang, một đồng nghiệp nhắc phòng hai đã mở và bảng tiếp xúc đang chờ dưới đèn. Sophie cầm phiếu cuộn phim đi trước. Đến ngã rẽ, chị chỉ về một phía rồi quay lại quầy lấy chìa khóa tủ.
Keeper bước quá chỗ rẽ ba bước.
Phía trước anh là một hành lang hẹp, cuối lối có ba bậc thang dẫn xuống cửa phụ. Trên sơ đồ chụp ở quầy, phòng hai lại ở bên trái. Nhưng trong đầu anh, ngón tay Sophie vừa chỉ sang phải rõ ràng đến mức anh đã định gấp sổ lại mà đi tiếp.
“Iris, trong đầu tôi chị ấy vừa chỉ sang phải.” Keeper dừng lại trước tấm biển. “Còn cô thấy tay chị ấy đi hướng nào?”
“Sang trái. Biển phòng đọc cũng ở phía trái.” Iris đứng cạnh mũi tên cố định. “Anh vừa ghi gì trong sổ?”
Keeper mở trang vừa ghi ở quầy: trái. Trong đầu anh, ngón tay Sophie lại chỉ phải. Chị đang quay trở về phía họ với chìa khóa trên tay.
“Chị Sophie, cho tôi hỏi lại. Ban nãy chị chỉ phòng hai sang bên nào?”
“Trái.” Sophie nhìn hai người rồi nhìn bảng chỉ đường. “Có người cũng đi nhầm, nhưng tôi đã chỉ trái. Hai người muốn tôi đi trước không?”
“Chị cứ đi trước,” Iris nói với Sophie. Cô chụp trang sổ của Keeper cùng tấm biển chỉ đường. “Chúng tôi theo ngay.”
Keeper giữ nguyên dòng đã viết. Tới cửa phòng hai, ký ức về bàn tay Sophie chỉ sang phải vẫn bám lấy anh; anh thôi lần tìm nó, tập trung vào chiếc chìa đang xoay trong ổ khóa thật. Iris đứng sau, đợi anh bước hẳn qua ngưỡng mới theo vào.
⁂
Khung thứ sáu trên bảng tiếp xúc cho thấy đứa trẻ bên bờ nước. Ảnh rộng hơn tấm Margaret giữ: bên trái có thêm một cọc gỗ, phía xa lộ mái nhà thứ ba, ngoài mép phải xuất hiện một phần vai áo của người lớn. Sophie đặt bản chụp cạnh bảng, xoay cả hai cùng chiều rồi lấy thước đo mép cắt.
“Có khả năng cao cùng khung hình,” chị nói. “Nhưng đừng hỏi tôi người lớn là ai. Phần vai áo ấy không có khuôn mặt.”
Keeper cúi xuống. Hai bàn tay đứa trẻ khép quanh một vật sáng màu. Anh đã nhìn chiếc thuyền ở Kho, nhớ rõ chỗ mũi giấy bẹt và nếp gấp quá sâu. Trên bảng tiếp xúc, vật trong tay em nhỏ đến mức chính nếp gấp ấy cũng chỉ là một vệt mờ. Anh dịch người khỏi đèn để Sophie kiểm lại; chị thử một kính phóng đại khác rồi lắc đầu.
“Tôi thấy nó giống chiếc thuyền ở Kho,” Keeper nói, chỉ vào vật sáng màu trong tay đứa trẻ. “Nếu tôi bảo chị ghi là thuyền, chị có chịu không?”
“Tôi chỉ ghi là anh nghĩ nó giống thuyền thôi.” Sophie đẩy kính về chỗ cũ. “Có nhà từng nhận nhầm người trong ảnh là ông mình, ba năm sau mới tìm ra đó là anh trai ông ấy. Ảnh mờ mà, người nhà còn nhìn lộn.”
Iris đặt bản chụp cạnh bảng tiếp xúc. “Margaret chỉ hỏi chúng tôi đứa trẻ này là ai. Trong bộ tư liệu của chị có gì giúp tìm tên em không?”
“Còn cuốn sổ hiện trường.” Sophie chỉ ngăn tủ phụ lục. “May thì có ngày chụp, tên người trong đoàn. Không may thì toàn số với chữ viết tắt của mấy ông khảo sát ngày xưa.”
Sophie để bảng tiếp xúc vào khay có nắp rồi kéo mục lục lại gần. Chị dừng ở một phiếu mượn được đăng ký từ đầu buổi. Dấu giờ có, nhưng ô giao nhận còn trống.
“Hôm qua tôi kiểm đủ bộ,” chị nói. “Sáng nay có người đăng ký xem sổ. Tôi chưa giao cho ai.”
“Vậy giờ nó ở đâu?” Keeper hỏi.
Sophie khép phiếu mượn, gọi đồng nghiệp kiểm xe trả tài liệu rồi tự đi về phía tủ phụ lục. “Khoan báo mất. Tôi muốn lục xe phục chế đã. Lỡ ai xếp nhầm thì cả buổi lại thành cuộc truy tìm thủ phạm.”
Một nhóm khách chờ ở quầy ngoài gọi Sophie hỏi lịch hẹn buổi chiều. Chị nhờ đồng nghiệp mang bản sao ra và báo giúp rằng việc xem cuộn gốc phải chậm lại vì có yêu cầu kiểm nguồn mới, còn mình tiếp tục tìm sổ. Người đồng nghiệp giải thích với nhóm khách ngay tại quầy; Keeper nghe rõ từ trong phòng đọc. Họ không biết Linh là ai, chỉ muốn nhìn lại con đường ven sông trước khi thành phố xây cầu mới.
Iris kiểm ảnh đã được phép sao, đặt cùng mã truy cập của kho ảnh nhưng không chụp phiếu mượn còn có trường ngoài phạm vi vụ. Keeper đứng cạnh giá tư liệu, nhìn thêm những khung ảnh liền sau khung thứ sáu: bờ nước vắng người, một chiếc xe đạp không có chủ, rồi dãy nhà đã xuất hiện ở phía xa. Cuộc sống trên bờ sông ấy vẫn tiếp diễn dù họ chưa tìm ra tên đứa trẻ.
Qua ô kính cuối phòng, một người mặc áo khoác xanh sẫm đi dọc hành lang. Quai túi tài liệu vắt chéo vai. Người ấy tránh một chiếc xe đẩy, bước nhanh về phía cửa phụ.
Keeper cầm sổ lên. Có lẽ anh từng thấy một chiếc áo giống thế ở kho Martin hôm qua. Anh nhớ người đứng gần quầy tiếp khách khi họ ra về; không nhớ mặt, không chắc đó là cùng kiểu túi. Anh chưa kịp ghi chuyện ấy vào sổ.
“Khoan, cái áo xanh ấy…” Keeper chỉ qua ô kính dù người kia đã đi khuất. “Hôm qua tôi đi ngang một người ăn mặc gần giống vậy ở kho Martin. Tôi không nhìn thấy mặt. Có thể chỉ là hai chiếc áo giống nhau.”
Iris quay lại. Người ấy đã khuất sau khung cửa.
Iris đứng gần cửa kính, không còn thấy bóng áo xanh. “Hôm qua anh có kịp ghi lại gì không?”
“Không. Tôi mải xem ảnh của bà Margaret. Đến lúc thấy cái áo này mới nhớ ra.”
Ngoài quầy, người ta gọi Sophie lần nữa; chị đáp từ trong tủ phụ lục, chưa tìm được sổ. Iris nhìn khay ảnh trên bàn, rồi nhìn cửa hành lang. Báo an ninh về một người đi ngang khi chưa biết vật có thất lạc hay không sẽ khiến Sophie phải giải trình một nghi ngờ chưa có căn cứ. Cô còn nghĩ tới việc Keeper vừa nhớ sai một hướng rẽ, như lần ở Kho trước đó.
“Đợi Sophie kiểm nốt kho phụ lục đã,” Iris quyết định. “Nếu sổ thật sự biến mất, tôi sẽ là người báo an ninh.”
Keeper không phản đối. Anh mở sổ để ghi thời điểm người áo xanh đi qua.
Iris nói thêm, quá nhanh, như thể muốn chặn hẳn cuộc tranh luận: “Anh vừa nhớ Sophie chỉ sai một hướng rẽ. Bây giờ lại thấy một chiếc áo và nhớ đến người ở kho Martin. Tôi sợ anh đang nối mọi thứ lại chỉ vì quá muốn tìm được ai đó.”
Đầu bút Keeper dừng trên trang giấy. Anh vẫn cầm nó, nhưng không viết tiếp.
“Nối mọi thứ?” Keeper siết bút. “Tôi vừa báo áo xanh với cái túi, còn nói có thể nhầm. Cô nghe thành tôi bịa ra người đó để được đi cùng à?”
“Anh muốn giúp đến mức anh không còn nghe chính câu mình vừa nói là ‘có thể’.” Iris vẫn đứng bên khay ảnh, không nhận ra mình đã chuyển từ nghi ngờ hồi tưởng sang phán xét anh. “Anh nhìn đâu cũng muốn tìm ra người cầm chiếc túi ấy.”
Sophie đi ngang cửa, mang theo chiếc xe trả tài liệu trống. Keeper đặt cuốn sổ xuống, tiếng gáy cứng chạm bàn làm chị ngoái lại. Anh xin phép đi ra ngoài một lát. Anh không đợi Iris trả lời.
⁂
Cửa cầu thang khép lại, tiếng quầy đọc giảm xuống chỉ còn âm vọng. Keeper đứng giữa hai bậc, nơi mùi sơn cũ và bụi kim loại đọng trên tay vịn. Anh lôi sổ ra rồi lại cất vào túi. Những dòng ghi đường đi vẫn còn đó, đủ rõ để bất kỳ ai cũng thấy anh đã viết gì. Còn trong đầu anh, ngón tay Sophie vẫn chỉ sang phải.
Iris mở cửa vài phút sau. “Sophie còn một tủ phụ lục chưa kiểm.” Cô đứng ở bậc trên, không bước xuống ngay. “Anh định ở đây tới khi chị ấy xong à?”
“Tôi muốn cô đừng theo tôi.” Keeper nhìn vệt sơn tróc trên bậc thang. “Hay lát nữa cả chuyện tôi bỏ ra đây cũng thành một dòng trong sổ của cô?”
Iris ngừng bước.
“Tôi đã báo cô đúng ba điều: áo xanh, túi mỏng, không thấy mặt,” Keeper nói. “Chuyện hôm qua tôi còn tự bảo có thể nhớ nhầm. Qua miệng cô, cả ba thành chuyện tôi bịa một người ra chỉ để được chen vào vụ này.”
“Tôi không nói anh cố ý bịa.”
“Cô có thể gọi nó bằng từ nào khác cũng được.” Anh quay lại, giọng bật lớn đến mức chính mình giật mình. “Căn nhà kia ở đâu tôi còn không biết. Người tôi đang cố nhớ là ai tôi cũng không biết. Một chỗ rẽ ngay trước mắt mà tôi giữ không nổi. Cô nghĩ tôi chưa từng tự hỏi hay tất cả những thứ này chỉ có trong đầu tôi sao?”
Iris vẫn giữ tay trên tay vịn. Keeper đợi cô nhìn thẳng mình, đợi một lời rút lại; cô chưa nói được câu nào.
“Còn chiếc thuyền?” Keeper hỏi. “Tôi tới đây vì cô muốn hỏi tên một đứa trẻ. Đến lúc tôi nói có thể đã thấy người mang chiếc túi, cô lại nghĩ tôi chỉ muốn chứng minh mình có ích. Vậy tôi phải làm sao để không phải xin phép được tin vào mỗi điều mình thấy?”
Câu cuối làm chính anh hụt hơi. Anh quay mặt đi. Anh đã chịu được việc căn nhà không có địa chỉ, bóng người không có khuôn mặt, cả những lần phải viết vào sổ rằng mình có thể nhớ sai. Nhưng anh không chịu nổi khi người duy nhất cùng anh đứng trước hành lang ấy lại nói anh chỉ muốn chứng minh mình có ích.
Iris thấy những ngón tay anh bấu chặt gáy cuốn sổ. Từ lúc bước xuống cầu thang, cô chưa một lần hỏi anh bị tổn thương ở đâu; mọi câu cô định nói đều vẫn là lời giải thích.
“Anh báo với tôi khi thấy người áo xanh. Tôi bảo đợi. Quyết định đó là của tôi; tôi không được đổ nó cho trí nhớ của anh.” Iris buông tay vịn. “Rồi tôi bảo anh nối mọi chuyện vì quá muốn tìm ra ai đó, dù anh đã nói có thể nhầm. Tôi đâu biết anh nghĩ gì. Lẽ ra tôi phải hỏi, thay vì kết luận hộ anh.”
Keeper đưa mu bàn tay ngang mắt. Anh chưa muốn nói gì; câu cô vừa rút lại vẫn làm anh đau như lúc mới nghe.
Iris mở túi lấy thẻ công tác, đặt nó trên lòng bàn tay. “Lúc vào phòng đọc, tôi nhớ mình đã quẹt thẻ ở cửa. Rất rõ. Tôi còn nhớ cả tiếng đầu đọc.”
“Cửa có ổ khóa,” Keeper nói, quay lại nửa chừng.
“Đúng. Sophie mở bằng chìa; thẻ của tôi chưa từng rời túi.” Iris khép những ngón tay quanh nó rồi lại mở ra. “Vậy mà trong đầu tôi vẫn có tiếng máy quét.” Cô nhìn Keeper. “Tôi sẽ ghi chuyện này riêng. Nó không làm ký ức của anh bỗng thành đúng, nhưng tôi đã sai khi cư xử như thể chỉ mình anh mới có thể nhầm.”
Chiếc thẻ nằm giữa những ngón tay cô. Keeper muốn hỏi có phải Iris cũng sợ, nhưng những lời vừa rồi còn quá mới để anh nghe ngay câu trả lời.
“Cô quay lại với Sophie đi,” Keeper nói. “Chị ấy đang phải lục cả kho vì cuốn sổ.”
“Tôi sẽ quay lại.” Iris đứng tránh sang một bên, nhường lối. “Nhưng chuyện tôi vừa nói với anh không biến mất chỉ vì chúng ta còn việc phải làm.”
Một tiếng bước chân gấp vang lên ngoài cửa. Sophie đẩy cửa, dừng lại khi thấy cả hai trên cầu thang.
“Tôi đã kiểm xe trả tài liệu, phòng phục chế và tủ phụ lục. Sổ hiện trường không nằm ở đâu cả.” Cô giơ phiếu mượn. “Có người đăng ký, nhưng chưa ai ký nhận. Tôi không muốn đợi hết buổi rồi mới nói với các anh chị.”
Iris lấy điện thoại. “Tôi liên hệ an ninh và yêu cầu bảo lưu những phần liên quan. Sophie, chị giữ nguyên phiếu đăng ký. Tôi sẽ ghi riêng quyết định đã không báo khi Keeper nhìn thấy người áo xanh.”
“Vậy anh ấy có nhận dạng được người đó không?” Sophie hỏi.
“Không.” Keeper trả lời trước Iris. “Tôi thấy áo xanh và một cái túi mỏng, không thấy mặt. Còn chuyện đã gặp một người giống thế hôm qua là tôi nhớ lại sau, lúc ấy không có ghi chép.”
Sophie gật đầu, ghi vào phiếu đúng phần Keeper vừa mô tả. “Thế thì tôi ghi áo xanh và chiếc túi. Không ai có mặt ở đây nhìn rõ mặt cả.”
⁂
Ở quầy tiếp nhận, Sophie tự ký thông báo thiếu sổ và niêm bảng tiếp xúc trước mặt người đồng nghiệp trực chung. Cô không đồng ý đóng luôn bộ ảnh để chờ điều tra, vì một số bản sao đã có người đặt lịch xem hợp lệ và không liên quan vụ việc. Thay vào đó, cô tách phần cần bảo quản, lưu ảnh tình trạng của khay và cho phép các yêu cầu ngoài vụ tiếp tục đi theo quy trình cũ.
“Còn bà Margaret?” Keeper hỏi khi Sophie ghi số liên hệ trên phiếu.
“Ảnh gốc đang ở nhà bà ấy.” Sophie gập phiếu, đặt riêng sang một bên. “Nếu cần hỏi thêm về tấm ảnh, tôi sẽ gọi bà trước. Đừng kéo bà vào chuyện mất sổ khi chưa cần.”
Iris liên hệ phụ trách an ninh của kho ảnh và gửi văn bản chịu trách nhiệm phần yêu cầu. Cô ghi rõ Keeper đã báo thấy áo xanh trước khi Sophie xác nhận sổ vắng mặt, rằng chính cô quyết định chưa thông báo, và thông tin về kho Martin chỉ là hồi tưởng muộn chưa kiểm nguồn. Đến khi đặt bút ký, cô không nhìn Keeper xem anh có chấp nhận cách viết ấy không.
Trong phòng bảo vệ, người trực mở các camera thuộc phạm vi được cho phép. Keeper đứng ngoài vùng màn hình có hình ảnh những khách khác, cùng Sophie đối chiếu vị trí khay lưu và sơ đồ cửa phụ. Sophie giải thích lối đi nào dẫn đến phòng đọc, lối nào vào khu kỹ thuật; chị biết các cửa vì chính chị phải chuyển cuộn phim qua chúng mỗi ngày.
Tám giờ mười ba, một người áo xanh đi qua quầy, mang phong bì dài. Tám giờ hai mươi, một người mặc màu áo tương tự bước vào hành lang gần phòng lưu rồi khuất khỏi góc quay. Ở camera cửa phụ, ít phút sau có một bóng người cùng màu áo ra ngoài với túi tài liệu mỏng. Góc máy không ghi được khuôn mặt; ngay cả người ở hai khung đầu đã là một cũng chưa ai chứng minh được.
“Phiếu mượn được đăng ký lúc mấy giờ?” Iris hỏi Sophie.
Sophie chỉ vào phần giờ được phép công bố trong vụ. Thời điểm ấy chưa thể xác nhận ai đã trực tiếp lấy sổ, bởi phiếu không có chữ ký giao nhận. Cô đề nghị người phụ trách trích cả các lượt mở cửa kỹ thuật nếu có quyền, rồi quay về phòng đọc; bản chụp từ ảnh gốc của Margaret vẫn ở đó.
Ba mốc camera được Keeper đặt cách nhau một hàng trắng trên trang sổ. Anh vẫn muốn biến người ở kho Martin hôm qua thành một người cụ thể có thể tìm theo, nhưng cả ba đoạn phim chỉ cho thấy áo, túi và góc khuất. Không cái nào cho anh một khuôn mặt.
Iris đặt bản in bên cạnh trang sổ. “Nhìn lại sơ đồ này, anh còn thấy Sophie chỉ sang phải như lúc trước không?”
Keeper lần ngón tay theo hai mũi tên trên sơ đồ. “Bây giờ thì không. Nhưng tôi vẫn nhớ tay chị ấy chỉ phải, dù chính tôi đã ghi trái ở quầy.”
“Tôi cũng sẽ viết lại chuyện tiếng quẹt thẻ mình nhớ.” Iris gấp bản in. “Ngày mai, ngoài báo cáo vụ chiếc thuyền. Tôi không muốn lời khai hôm nay bị lẫn với phần hai chúng ta chưa hiểu.”
Keeper gập sổ. Giữa họ còn một câu chưa được nói hết. Anh không định hoàn thành nó giữa phòng bảo vệ.
Sophie trở lại cùng một đồng nghiệp. Họ đã niêm khay ảnh và giữ bản số hóa khung thứ sáu theo đúng giới hạn sử dụng, để công việc còn lại của kho ảnh không bị dừng. Chị đưa Iris bản xác nhận, rồi ngoái qua cửa sổ nhìn xuống khoảng sân sau.
“Người kia.” Sophie chỉ. “Tôi thấy chiếc áo và túi giống người đã đi qua hành lang lúc nãy. Bây giờ họ đang ra cổng phụ.”
Iris bước tới cửa, chỉ nhìn được vạt áo xanh sẫm và một quai túi vắt chéo. Không ai trong phòng dám nói chắc người ấy là người trong camera, càng không biết có mang theo cuốn sổ hay không.
“Tôi báo bảo vệ ở cổng,” Sophie nói, rút điện thoại ra trước khi Iris yêu cầu. “Hai người đừng đụng vào hộp ảnh nữa. Phần đó để tôi chịu trách nhiệm.”
Iris trao bản bảo lưu đã ký cho chị. “Chúng tôi ra ngoài quan sát. Giữ camera cửa phụ và đường tới cổng trong phạm vi yêu cầu vừa nộp.”
Keeper xuống thềm cạnh Iris. Cô nhìn anh một thoáng, như muốn nhắc lại điều gì đó ở cầu thang rồi thôi. Anh giữ người mặc áo xanh trong tầm mắt, đồng thời nhìn vị trí chiếc cổng để khỏi một lần nữa đuổi theo đường đi chỉ xuất hiện trong đầu mình.
Người áo xanh quay lại. Thấy họ bước ra sân, người ấy bắt đầu chạy.