Chương 6: Cải tổ quân sự

Trong bốn tháng tiếp theo, Thống Sư đã thực sự cải tổ, dùng biến pháp của mình mà chia các quân thành doanh, lập nên một quân đội hoàn thành mới mẻ cho tổ chức quân sự ở Lâm Nam: binh lính được sắp xếp vào ba doanh chính gồm Trung doanh, Hữu doanh và Tả doanh. Với Hữu doanh và Tả doanh thì mỗi doanh có ước chừng 6 ngàn binh bộ mang trường thương dài và quân cầm khiên bảo vệ trường quân, 3 ngàn cung thủ, nỏ thủ và lính ném đá, 2 ngàn kỵ binh và 5 ngàn dân phu, tổng cộng là 16 ngàn người thì đã có 11 ngàn người là khả năng tác chiến trong mỗi doanh. Trung doanh thuộc về sự quản lý chặt chẽ của Thống Sư gồm 1 ngàn 500 quân từ Liệp Sanh sang, 3 ngàn thủy quân có thể dùng trong tập hậu và 6 ngàn dân phu, tổng cả Trung doanh là 10 ngàn 500 người thì có 4 ngàn 500 người là có khả năng tác chiến. Tổng lực lượng huấn luyện ở bản doanh kháng chiến Hưng Lâm là 26 ngàn 500 người có thể chiến đấu và 16 ngàn người là nhóm hậu cần phụ trợ. Tuy cũng có các thân binh, lính tráng khác của các tổng châu, huyện lệnh nhưng bọn họ không trực thuộc quyền của Thống Sư, chủ yếu làm nhiệm vụ canh giữ bản doanh và các vị yếu nhân không tham gia vào các doanh tác chiến. Chỉ huy của các doanh được phân bổ như sau: -Tả doanh do Ngô Huyền làm trưởng doanh tướng quân, Nguyễn Tư làm phó doanh tướng quân, Triệu Chính làm quản phu trưởng. -Hữu doanh do Dương Lâm làm trưởng doanh tướng quân, Lý Kiến làm phó doanh tướng quân, Đinh Thắc làm quản phu trưởng. -Trung doanh được chính Bảo Nam Trọng Tướng Quân tức là Thống Sư làm kiêm trưởng doanh tướng quân, Lê Kiêm (là cháu của Lê Uýnh) làm phó doanh tướng quân, Trịnh Tô làm quản phu trưởng. Về việc tiền lương, quân nhu thì họ Lê, họ Đinh, họ Dương, họ Trần ở châu Hách và châu Lâm tự cả nhà góp của, tặng gạo cho đạo quân Lâm Nam được tới hơn 6 triệu lượng bạc, 3 vạn lượng vàng, 10 vạn tiền đồng và hơn 110 vạn thạch lương – đủ dùng cho hơn 1 năm chinh chiến. Vả lại, vị Bảo Nam Trọng Tướng Quân cũng khuyến khích vài ba binh sĩ và các dân phu mở khai điền tịch, trồng lúa nuôi cá để gia tăng lương thực cho binh sĩ trong mùa gieo lúa, toàn quân sẽ đánh trận sau khi mùa lúa đã gặt xong. Trọng giáp, vũ khí, máy công thành đều ngày đêm gấp rút được hoàn thành, một phần lượng lửa đốt nhiên liệu làm những thứ trên cũng nhờ số than khai phá được ở các dãy núi gần huyện Hải Lô như Ninh Hắc và Cồ Tư – vốn đã là nguồn than đốt sưởi ấm của người dân địa phương suốt nhiều năm. Kể về các tướng được Thống Sư lựa chọn thì trong đó mới nổi và xuất thế bình dân gồm Tả doanh quản phu trưởng Triệu Chính và Hữu doanh phó tướng quân Lý Kiến. Triệu Chính là người làng Tân Hòa thuộc huyện Tây Sơn của châu Giao, cách thành Thanh Tây chừng 30 dặm. Có người cho rằng Triệu Chính là dòng dõi thất lạc của họ Triệu nắm quyền tiểu vương hàng chục năm về trước, có người lại cho rằng Chính là con hoang của tiểu vương cuối cùng đạo Lâm Nam, Triệu Giang. Ấy chỉ là giải thuyết mà thôi, bởi chính Triệu Chính cũng thừa nhận mình con của tiều phu chặt gỗ hàng ngày kiếm sống. Sau này Triệu Chính xin nhập ngũ biên quân do muốn cống hiến cho xứ Nam cũng như có chút bổng lộc gửi về cho gia đình. Vốn là đô úy trưởng nắm hơn 300 quân ở ải Đông Thanh trấn Tây Bắc chống cự quân Hậu Sở tấn công ở mạn Tây, Triệu Chính dưới quyền của Đặng Tắc – tù trưởng tướng quân giữ ải ấy. Nhưng tên Đặng Tắc này đã phản trắc mà dâng ải cho quân ngụy Sở do Trần Hào chỉ huy, Triệu Chính tức giận mà đem quân xông vào doanh định giết chết kẻ vì vàng mà hại dân. Nhưng do quân của Triệu Chính ít quân mà rơi vào tình cảnh thế cô khiến lính chết quá nửa, buộc Chính phải lui về rừng ẩn nấu kháng cự địch cùng huynh đệ. Dần dần, vị đô úy họ Triệu cùng em gái là Triệu Dư đã phất cờ chống ngụy Lăng – Tâm ở khắp huyện Tây Sơn, tạo nên thanh thế rất lớn. Ngày mà Chính về theo Thống Sư là lúc bạn ông tên Bạch tới nói với lãnh tụ kháng quân rằng: ” Ông có chí khí chống giặc, nhưng chúng đông, ta ít khó địch lại lâu dài. Ông hãy đem quân tới trại Hưng Lâm gặp Thống Sư. Thống Sư sẽ khiến ông mãn lòng, có hiểu biết binh gia rõ hơn mà có ý diệt giặc nhiều hơn!” Cho nên Triệu Chính để em gái mình tiếp tục lãnh đạo nhân dân huyện Tây Sơn, tự chiêu binh mãi mã cự giặc còn chính ông lặn lội trăm dặm tới gặp Thống Sư. Vị Bảo Nam Trọng Tướng Quân nể trọng tài năng và lòng dũng cảm của cựu đô úy biên ải này cho nên sau một tháng cho ở trại học tập thì liền phong Triệu Chính làm quản phu trưởng cho Tả doanh, thống suất về việc quản lý lương bổng, quân nhu, về tình hình dân phu, thầy y, thợ rèn, kỹ sư, thông ngôn,… ở trong đội phu hậu cần. Lý Kiến là người làng Cổ Sơn, thuộc huyện Tô Hiên của châu Giao, sinh ra trong một gia đình bán gạo nổi danh khắp làng. Kiến từ nhỏ đã giao du với các anh hùng hào kiệt nên biết nhiều thế sự thiên hạ, không ngày nào mà không bàn sự với người cùng lứa về việc chiến lửa Trung Nguyên sẽ lan tới xứ Nam ít lâu. Khi cùng cha sang đạo Tiến Nam, gặp lũ thổ phỉ và bọn chằn tinh cướp phá làng ở Giang Bảo thì Lý Kiến đã dùng đao thuật diệt hơn 10 tên và cứu lấy 30 người. Sau đó Tiến cùng với dân ở đấy đột kích trại thổ phỉ, tàn sát hơn 280 tên và cứu ra 100 người sắp bị nướng lấy thành cỗ dê[1]-vốn là thứ chằn tinh hay làm. Khi nhà ông tìm được chức quan thư lại ở xã cho Lý Kiến thì Kiến đáp: ” Thiên hạ đất trời bao la, bách dân vốn sống không đủ mà con đây lại chỉ biết ru rú lẩn trốn, ấy có phải chí mà bậc nam nhi trong thời loạn cần hay không?” rồi lúc đêm mang ít đồ đạc mà giao du giang hồ, giáng xuất cứu người; năm ấy Lý Kiến đã 19 tuổi. Tới Lại Yên, Kiến gặp Lê Uýnh cùng chí hướng lo xa nên đã xin quy thuận theo làm môn sinh để rèn luyện. Năm 25 tuổi thì Hạng Danh xuất quân xâm lược nên Lý Kiến xin về quê cùng gia đình bảo vệ làng. Nhờ vào võ nghệ và chút ít hiểu biết binh gia mà Lý Kiến cùng với 300 người đã đốt hơn 20 trạm gác và 1 trại lương địch. Trịnh Soài-tướng lưu thủ của Hậu Sở, nhiều lần chiêu hàng Lý Kiến nhưng không được, bèn sai phó tướng là Trần Hào cùng với 4 ngàn tên bao vây kín địa cứ ở Đông Hằng nhằm diệt anh hùng mới nổi này. Nhưng Trần Hào không ngờ vào đêm thì Lý Kiến cùng với toàn quân và dân làng dương đông kích tây: đáng vào trạm bên Tây rồi rút về địa cứ khiến quân địch tập trung tiến theo, trong khi toàn lực lượng liều mình phá trại bên Nam mà tìm đường sinh cơ. Lý Kiến đem quân về Hưng Lâm, gặp lại Lê Uýnh và Thống Sư. Thống Sư khen Lý Kiến là “người trẻ mà gan dạ, phiêu bạc vô cố như chính mình hồi trẻ”, vậy mà đề bạc trọng dụng rất tốt. Lý Kiến được đảm chức Hữu doanh phó tướng quân từ nay, ngày đêm chăm lo luyện binh, dàn trận ,hoàn toàn thấm nhuần cách dùng “Phương Bách Quân” nhanh chóng. Khi lương thực và giáp khí đã chuẩn bị đầy tới nỗi có thể đủ sức đánh bật quân Hậu Sở khỏi xứ Nam, Thống Sư bắt đầu xuất chiến lược vây khốn tâm địch ở Lân Nội bằng cách chặn nguồn hậu ứng ở hai ải Đông Thanh và Nam Dương. Mục tiêu tiến binh đầu tiên là chiếm lấy thành Thanh Tây và thành Giang Hiên – đầu nối với hai ải trên đã kể. Một khi một trong hai thành ấy bị lấy thì cắt đứt liên lạc của triều đình Hậu Sở ở Lục Đô với bọn ngụy Lăng – Tâm phải vào thế “hổ dữ bước vào thế cùng ngõ hẹp”, chúng sẽ đem quân ra khỏi hồ Thiên Hoàn mà đánh một trận tử chiến. Ngày 2 tháng 9, Tả doanh do Ngô Huyền đứng đầu đã đem hơn 1 vạn quân tiến vây thành Thanh Tây do tướng địch là Đặng Tắc lưu thủ. Quân Hữu doanh của Dương Lâm dùng kế nghi binh quấy phá địch ở làng Như Tô làm cho ngụy Lăng – Tâm nghĩ phe nghĩa quân sẽ muốn chiếm lấy Lân Nội mà tập trung đề phòng quanh hồ Thiên Hoàn thay vì ứng cứu các nơi khác, bị lừa vào thế khó đỡ. Ở trận vây thành Thanh Tây, nhờ vào thang mây mà quân Tả doanh thiết lập vào đêm dẫn quân tiến vào thành bất ngờ khiến địch trở tay không kịp; địch bị đồ sát, lấy hơn hai ngàn thủ cấp giặc và bắt sống Đặng Tắc cùng gia quyến của hắn. Ngô Huyền bèn giao Đặng Tắc cho Triệu Chính tùy ý mà xử lý. Triệu Chính đi trước mặt Đặng Tắc mà kịch phúng nói: ” Mi không ngờ có ngày báo ứng đối với  tên phản phúc hại bá tánh như mi đúng không?” Đặng Tắc nghiến răng trong bất lực rồi thở dài nói: ” Hừ! Thời đã thế, thời luôn đổi, làm thế đổi theo. Ngươi chưa chắc sẽ sống tốt đâu,  còn ta chỉ đang trải qua cảnh xấu trước thôi…” “Thôi nhiều lời, tên gian bán nước cầu vinh kia! Tau sẽ trả hết nợ máu của mi cho bách dân xem lấy!” – rồi Triệu Chính hạ lệnh thuộc tướng giết hết toàn nhà của Đặng Tắc, kết thúc cuộc đời của tên gian đồ mở ải cho giặc tràn vào xứ Nam. “Ta sẽ cấp lệnh anh đem hơn ngàn quân cùng với quân khởi nghĩa vùng phát lệnh chiếm lại ải Đông Thanh” – Ngô Huyền lệnh cho Triệu Chính. “Hạ tướng xin lĩnh mệnh làm theo!” – vị quản phu trưởng Tả doanh chấp tay tuân lệnh. Ba tuần sau khi hạ thành Thanh Tây, thì toán quân của Triệu Chính cùng với lực lượng dân binh do em gái là Triệu Dư trà trộn vào trong ải Đông Thanh mà phục kích, chém hơn 100 tên giặc và lấy được đại kỳ khắc chữ Sở màu cam ngả lục sẫm. Dù nghe tin các nơi tiếp báo thảm trận liên tục trước đạo quân cải biên của Bảo Nam Trọng Tướng Quân nhưng quân ngụy Lăng – Tâm vẫn chở binh qua hồ Thiên Hoàn với một vạn ba ngàn do Trần Hào chỉ huy để nghênh chiến với Hữu doanh của Dương Lâm do Trần Hào (vốn là phó tướng cả đạo, dưới trướng Trịnh Soài) tự tin rằng bọn binh Lâm Nam là thứ “chúng dân ô hợp”, duy chỉ có vài ba anh hùng như Lê Uýnh, Nguyễn Tư, Mai Toàn mới phá đảo quân địch, nâng cao sĩ khí tráng sĩ xứ Nam nhưng khó xoay đổi càn khôn toàn diện khi đương đầu với hơn vạn quân Hậu Sở chinh chiến mười năm. Tên bản địa phản gian dưới trướng Trần Hào là Kiểu Thụ tâu rằng: ” Xin chi chủ tướng quân hãy cẩn thận bè lũ Dương Lâm, Lý Kiến vì lũ này có quỷ kế bất thường, xuất ngoại nội nhập trơn tru mà không rõ hành tung dễ như ta nghĩ đâu” – Thụ hiểu rõ những tên này hơn chính Trần Hào vì hắn có người kể lại lai lịch những hào kiệt đạo Lâm Nam vô cùng bá khí –“ Mong tướng quân hãy ngày ngày canh chừng giặc, không mắc lại sai lầm ở Đông Hằng hồi trước nữa, ấy vậy giúp tướng quân có công giết giặc, Bá Vương Đại Sở ắt sẽ khen thưởng mà phong hầu tước cho tướng quân!” “Ngươi nói cũng phải” – Trần Hào bèn quay sang bọn tướng lĩnh mà nói một cách nghiêm nghị -“ Các ngươi phải giữ nghiêm các trại, không được nghênh chiến khi chưa có lệnh của bản tướng!” “Bọn thuộc tướng đã rõ” – các tướng Hậu Sở đồng thanh mà lạy xuống. Tuy thói ngạo báng, coi Trời như vung hãy còn thì Trần Hào vẫn ra lệnh ngày đêm canh chừng địch tập kích từ quân Lâm Nam: tên nào ngủ gật hay lơ là sẽ bị trị tội nặng. Nhưng đó chính là ý muốn của phe ta, bởi Sở tặc luôn bắt binh lính đề phòng liên tục ngày đêm làm cho chúng mệt mỏi, khánh kiệt sức lực. Lý Kiến nói Dương Lâm về nội tình địch: ” Tôi đây thấy địch định vốn phòng sai sót cũ nhưng chúng vẫn đi theo lối mòn cũ, nước tới chân mới nhảy vả lại quen tính kiêu, xem thường chúng ta do luôn có mưu kế của Phạm Tùng đưa tận miệng cho ăn, còn gần với thần tướng chém trăm địch, đánh trận nào gần như thắng là Hạng Danh – trước hắn đã có tiếng khi dẹp đám tiểu tốt ở Hồ Nam, Vân Nam khiến hắn tự cao, tự đại. Chủ soái của chúng ta là Lê Uýnh đã quật ngã Sở Tặc Ác Vương nhưng bọn Trịnh Soài, Trần Hào hãy còn quên bài học cũ, chẳng bao lâu chính bọn chúng sẽ tự nhận lấy thất bại vậy!” “Ông nói có lý!” – Dương Lâm đáp lại với vẻ mặt thoải mái nhưng đầy suy tư –“ Tôi càng ủng hộ việc tiêu hao sinh lực của địch trước, ngày ngày đem binh dàn trận kích chiến, thách thức địch rồi lui binh. Tới khi chín muồi, Hữu doanh của ta nhận tính nhiệm của chủ soái xuất quân diệt gọn bọn xâm lăng, chà đạp quê hương ta. Tạ lỗi với trời đất xin ruộng lúa mau tốt vàng ươm, bông lúa dìu xuống phục vụ dân ta!” Quân Hậu Sở luôn tìm cách chiêu hàng Lý Kiến qua lời lẽ ngon ngọt của sứ giả chúng, nhưng làm sao cũng không khiến cho phó doanh tướng quân của Hữu doanh động lòng cả. Nên Kiểu Thụ thử sai đồng hương của Lý Kiến cùng làng, tên là Hà Hanh tiếp cận gần và bắt sống vị tướng ấy, nếu không được thì sai người giết bỏ đi. Hà Hanh mời gặp Lý Kiến riêng tư ở quán trà nước giữa đường – nơi mà cách xa trại của ta lẫn địch, hắn hỏi Lý Kiến rằng: ” Bôn ba tứ phương, anh thấy mình có khi thiệt thòi không? Mà giờ đây anh lại theo lũ phản tặc không chủ này chứ, có đem lại cho anh vinh hoa phú quý hay không? Tôi càng thấy anh bỏ nhà rơm ở nhà ngói sẽ sung sướng hơn nhiều. Anh hãy nghĩ kỹ đi, vị Đô Đạo Nùng Trù Lăng sẽ thăng cho anh chỉ huy cả một doanh, con đường thăng quan sẽ rộng mở hơn!” Lý Kiến chỉ nhìn bạn cũ với ánh mặt không đổi mà ông cười nhẹ trả lời: ” Anh hãy còn trẻ, như tôi vậy nhưng anh chưa từng ra khỏi xứ bao giờ mà hiểu cái khổ hơn bên ngoài, bởi nó còn thảm thiết hơn dân ta tưởng tượng. Nhiều người nơi khốn khổ ấy mất cha, mất mẹ bởi bọn thổ phỉ, chằn tinh và ngay cả quan quân ở trên. Nhà cửa họ tiêu điều, con cái bị nấu sống, thế họ có từ bỏ hay không? Họ thà cầm gươm, mang giáp đan tre mà liều mạng vì báo thù, vì quê nhà” – Lý Kiến lấy giọng nghèn ngạo mà nói thêm –“ Những cái anh nói với tôi giờ đây, nếu khổ dân mà nghe được thì họ phun nước bọt mà chẳng thèm để ý, mềm lòng vì lòng họ đã cứng lại rồi. Tôi đây cũng vậy, anh chỉ mất công sức cho giặc cố dụ dỗ kẻ thà chết vì xã tắc mà thôi!” Lý Kiến thấy Hà Hanh đã lúng túng, bàng hoàng với sắc mặt tối sầm thì ông nói tiếp: ” Anh hãy nhớ, anh chỉ đang sống trong lời hứa hào nhoáng và chút lợi lộc vô bổ của lũ dục vọng phản dân. Chúng sẽ trở mặt anh khi chúng cần làm, khi anh hết giá trị với chúng. Tôi cũng biết ở đây rằng nếu như anh không thể chiêu dụ được tôi thì sẽ bắt tôi hoặc thậm chí tệ hơn nữa. Tôi chẳng có sợ, nhưng anh sẽ sợ sự vô tình của bọn bất nhân này!” Hà Hanh im lặng một hồi lâu rồi đáp lại chậm rãi rằng:” Mở mang tầm mắt là việc ngài rất giỏi làm, tôi bái phục cái cách khai mở này! Thà chết để đổ máu chứ không dơ tanh thân này bằng vàng lụa, sắc dục!” Hà Hanh quỳ lạy Lý Kiến xin tạ tội mà chiêu hàng dưới trướng trong Hữu doanh, việc này làm rung động lương tâm chính bọn phản gian cũng như nổi lo sợ hãi bởi sự đa nghi của Trần Hạo khi bọn bản địa còn trung thành với Hậu Sở đối mặt với nguy cơ bị trừng phạt lây. Sau hai tuần án binh bất động thì hừng sáng ngày 8 tháng 10 từ bên Hữu doanh có hơn 1 ngàn 500 kỵ binh do Mai Toàn lĩnh mệnh bất ngờ xuất đột khỏi trại, ngang nhiên chạy tới trại địch mà phóng hỏa, chọc ghẹo phía ngụy Sở rằng bọn chúng hèn nhát rồi xong những khinh kỵ ấy chạy về phía Hữu doanh. Cùng lúc, trưởng doanh Dương Lâm sau khi nhận tin Mai Toàn đốt trại địch rồi lui về thì hạ lệnh cho toàn doanh xuất kích theo đội hình gồm: 23 “Phương Bách Quân” xen kẽ ô bàn cờ, hai đội thuẫn quân ở rìa và hai đội kỵ binh ở ngoài cùng. Bên trái kỵ binh là do Dương Lâm chỉ huy, quan sát tình hình toàn quân phía trái, bên phải kỵ binh sẽ do Mai Toàn đảm đương. Còn lại 23 “Phương Bách Quân” và hai đội thuẫn quân – tức là hơn 9 ngàn 500 người thuần thục, thành thạo phương trận mới do Lý Kiến đốc thúc toàn quân tiến lên, đội hình này vô cùng ngay hàng thẳng tấp, có khí chất của một đạo quân thần cơ mà dựng nên bởi Trời. Đây là lần đầu tiên mà hơn vạn tinh binh Lâm Nam ra dàn chiến với quân đội từ Trung Nguyên sòng phẳng, chẳng thua kém các trận thư hùng giữa Vũ Kiến Cát và Hạng Danh mấy năm qua. Tức giận khi nghe tin quân Lâm Nam quấy phá trại trước khi kịp ngủ dậy, Trần Hào bèn xuất hơn ba ngàn kỵ quân đuổi theo – bằng mọi giá giết chết vài tên chọc phá để hả giận. Cùng lúc đó, hắn cũng tập hợp bộ binh gồm một vạn năm ngàn người ra đánh địch, thầm nghĩ sau diệt gọn kỵ địch thì toàn Hữu doanh của quân Lâm Nam sẽ như cá nằm trên thớt vậy. Kiểu Thụ khuyên can Trần Hào hãy thu về kỵ binh, hợp lực cùng bộ binh để cùng nhau đánh địch nhưng sau vụ Hà Hanh trở mặt thì lời của Thụ như nước đổ lá gai, chẳng đáng giá trị khi lòng trung thành của những đám bản địa như gió đổi chiều hướng khiến lá bay trong mắt lũ xâm lược Hậu Sở. Cùng lúc đó cách trại Sở tặc hơn 14 dặm, đội hình chỉnh tề của Hữu doanh đang tiến dần tới quân địch, băng qua các cánh đồng lúa vẫn còn xanh tươi, vốn mới vừa gieo mạ non tháng trước. Khi tới bãi đồng cỏ thì nghĩa quân Lâm Nam dừng quân lại, trường thương chĩa trước dài như các lũy tre nghiêng mình cùng với lớp khiên chắn bọc người của thuẫn quân cho một uy thế rừng ngàn khó đổi dời vậy. Tiên phong kỵ binh của địch là Chu Thông – em của hầu tướng Sở quốc Chu Lệ, hắn tiến sát tới gần đội hình quân đối phương thì Chu Thông đã chấn kinh thấy toàn hàng thương dài có một cảm giác như nhím khó bắt nổi. “Cái kiểu gì đây, chưa bao giờ thấy kẻ nào giơ thương dài tới cỡ vậy!” – Chu Thông hốt lên, dù nét mặt dần trở lại bình tĩnh. Trong lúc hắn đang hoang mang thì các nhóm cung thủ từ bên chiến tuyến quân Lâm Nam bắn vào tinh kỵ bọc giáp của Chu Thông, tuy không gây tổn hại nhiều nhưng có sự ức chế cho lũ giặc. Chính Lý Kiến bước ra từ hàng ngũ trường quân mà hét lên trước địch: ” Chu Thông, nếu ngươi có gan anh dũng, tận trung báo ơn với đại vương Sở tặc thì đem toàn kỵ của ngươi ra đấu với Phương Bách Quân của ta. Mỗi bên đem số lượng tương ứng ra mà đánh, thể hiện sự quân tử công phân minh ưu bằng thực lực ở đây. Còn bằng không thì ngươi hãy rút lui, trốn chạy như một tên vô mưu háo danh nhưng sợ chết. Ngươi hãy tháo chạy ra khỏi xứ Nam này mà không quay mặt nhìn lại, xin tạ tội trước đại vương của ngươi!” Lời nói sang sảng mà đầy sự lợi – hại thách thức này khiến suy tâm của Chu Thông từ trạng thái tiến thoái lưỡng nan sang một cái nét mặt hung tợn, muốn ăn tươi nuốt sống Lý Kiến cho bằng được. Hắn cưỡi ngựa trước mặt phía Lý Kiến chừng 500 trượng mà hét lên: ” Đầu của Lý Kiến nhà ngươi ta sẽ đem nộp báo thưởng cho đại vương nước Sở, không để ngài ấy thất vọng một lần nào nữa!” Cả hai bên đem lực lượng tương tự quân số ra nghênh chiến trực diện, khí thế hai bên vô cùng căng thẳng một cách kỳ dị, ngay cả quạ đen cũng né tránh khỏi. 8 “Phương Bách Quân” được vị phó tướng của Hữu doanh dẫn dắt mà tiến lên một cách nghiêm chỉnh, mỗi bước chân không hề sai một li chi nào. Mỗi một người lính Lâm Nam trong đội hình đều mang tinh thần rực lửa, quyết trả thù cho đồng đội chết ở Đông Hoàn và bà con Lâm Nam từng ngày bị bọn ngụy Lăng – Tâm cùng với giặc Hậu Sở chà đạp, ức hiếp không kể hết tội. Vị phó tướng Hữu doanh lúc này cưỡi ngựa lên, đi khắp đoàn quân chuẩn bị chiến đấu giết thù để chấn chỉnh quân sĩ trước trận. Ông quay ngựa về phía các tướng sĩ, nhằm nói những lời nâng cao sĩ khí. “Đồng hương của ta…” – Lý Kiến hô to trước lính tráng Lâm Nam đầy sự bá khí và dâng trào –“… các anh hôm nay đã đối mặt lại với bọn tặc gian này sau hơn mấy tháng lao khổ luyện tập, sau khi anh dũng thoát khỏi vòng vây của quân thù xảo trá bức hại vị Đô đạo họ Khúc đáng nể của chúng ta! Không bao giờ mà chúng ta quên được nợ máu này cả, đúng không các tướng sĩ?” Các tướng sĩ xung quanh đồng lòng vang lên rằng:” Không bao giờ quên mối thù!” “Không bao giờ quên mối thù!” “Không bao giờ quên mối thù này, giết chết lũ Sở tặc!” Tiếng hô quân sĩ vừa dịu xuống thì Lý Kiến lại tiếp lời: ” Hỡi quân dân anh dũng bảo vệ xứ Nam đây, nay chúng ta khấn Trời xin cho một chiến thắng chính nghĩa. Một chiến thắng mà cho muôn dân bớt thống khổ, một chiến thắng quét sạch lũ phá hoại, một chiến thắng lưu danh thiên thu, một chiến thắng đời đời không thể quên được!” – ông liền khích lệ tinh thần binh sĩ thêm rằng –“ Anh em ta hãy tiến lên, chúng ta không thể thua trận, không thể lùi bước, chiến thắng này cho quân dân Lâm Nam!” Một vị bách hộ trưởng tên là Kiệt, rút đao ra cán để thẳng lên trời mà đáp lời từ đáy lòng vị ấy: ” Ở đây vốn là làng của tôi, là chỗ của cha mẹ tôi, của con cái tôi. Không bao giờ mà tôi có thể rút lui, mà chỉ có thể tiến lên! Chỉ có thể tiến lên mà chém giặc báo ơn với nước!”, vậy mà làm cảm lòng những người nghe gần đó. Họ liền hô theo rằng: “Chỉ có thể tiến lên mà báo ơn! Chỉ có thể tiến lên mà báo ơn! Chỉ có thể tiến lên mà báo ơn!” – Toàn quân hô lớn vang dội khắp đất trời, cánh rừng cổ thụ mà xúc động đưa đẩy cành cây, người và đất đang hợp lòng cùng nhau vậy. Lời vang ấy còn được dân làng Như Tô, Sơn Du và Phù Khê ủng hộ bằng cách lấy nồi, thau gõ vào nhau – tạo thành một tiếng vang khắp xóm phía Đông hồ. Nó hòa lẫn với lời thề báo thù y như tiếng của chục vạn tướng sĩ, chứ không phải ngần ấy ba ngàn người. Tiếng ca vì nước báo ân ấy làm cho tâm sĩ quân Sở tặc cực kỳ xuống thấp, dù trong tay vẫn hãy còn nắm chặt thương nhưng cổ tay chúng đã run theo nhiều phần mà chảy mồ hôi xuống. Chu Thông phải hét lên để trấn áp nổi sợ: ” Sao lại kinh hãi trước đám tôm tít, sâu bọ thế kia? Kỵ nhị quân chúng ta là vô địch Trung Nguyên: đánh tan quân Bạch ở Chiêu Thủy, chém chết Trường Vu của nước Thục, bọc hậu cho đại vương ở Ích Dương. Không có nơi nào mà chúng ta sợ khó khăn cả, hãy dũng khí lên các huynh đệ. Ai giết chết tên Lý Kiến kia thì sẽ trọng thưởng ngàn lượng vàng, được ban tước vị, đời đời con cháu ấm tập!” Quân nhị kỵ của Hậu Sở đã ổn định sĩ khí thì Chu Thông lệnh cho đô úy tên Bàng Cung rằng: ” Ngươi hãy dẫn 500 tên đánh trước vào sườn bên trái của bọn chuột nhắt, cố gắng đi bọc sau mà tìm khe hở diệt chúng. Đám chuột ranh tưởng có chút gai nhím đã coi kỵ ta như cỏ rác nên dám ra đánh thì chỉ nắm lấy bại chín phần mà thôi!” “Thần sẽ làm theo lời của chủ tướng!” – Bàng Cung đáp rồi lệnh thuộc hạ đem tốp kỵ ra chiến lập tức. 500 thương kỵ với tốc độ áp sát tới sườn trái của Phương Bách Quân, bọn chúng không hề trực diện lao vào trường thương dài 15 trượng mà cố gắng qua khe hở giữa hai đội Phương Bách Quân mà tìm đường công xung đột phá vào. Nhưng ngay khi tới sau lưng thì chúng chỉ thấy toàn là những trường quân cầm thương chĩa trước mặt chúng, thực sự khó tìm ra lối lọt vào. Bàng Cung liền dồn trăm kỵ binh lao vào Phương Bách Quân, cố cầm lấy trường thương từ quân đối phương. Nhưng lúc này quân ném đá từ hàng trường quân chạy ra phóng đá nhọn vào chân ngựa của kỵ nhị quân khiến chúng hí lên trong cơn đau thốn, rú chạy đột ngột làm cho người cưỡi bị ngã xuống đất, tiếng rên đau vào trong xương thịt. Và những thương dài của các Phương Bách Quân cứ hướng xuống mà đâm tới liên tục vào gót chân, đầu gối, eo bụng và cả cổ mặt binh kỵ địch, liên tục các nhát đâm cứ hạ sát từng tên một. Thương vong cuộc giao tranh này tiêu hao cho Chu Thông hơn trăm kỵ sĩ tinh nghệ khó mà thay thế, còn thuộc hạ Bàng Cung bất lực trong việc phá vỡ trận hình kỷ luật của Lý Kiến. Chu Thông ra lệnh Bàng Cung thoái lui, liền ghép 2 ngàn 400 quân thành 12 khối vuông, tạo nên đội hình kỵ lớn; mỗi đội dày tới 10 hàng hòng dùng thế đông đè chết trường quân Lâm Nam. Các đội dồn về hai hướng bên ngoài nhắm cô lập trung đội của Lý Kiến, khiến vị phó doanh tướng quân khó tiếp ứng từ bất kỳ phía nào. Chu Thông là tướng đánh nhiều trận nên hắn nhiều thứ hiểu rõ hơn kẻ non kinh nghiệm, rằng ép chặt hai cánh đối phương sẽ hiệu quả hơn là chia đều đánh trực diện mà thắng bại chưa rõ. “Ngươi sẽ thấy nổi thống khổ khi dám coi thường Nhị Kỵ Quân của ta, Lý Nghịch Đạo ơi! Cái đội hình nghịch với lối đánh binh gia của ngươi chỉ nhất thời giúp chút ít chứ không có biết cách để đánh quân tinh kỵ ta lâu dài!” – Chu Thông cười kịch phúng lên trước quân của hắn. Lý Kiến hiểu ý giặc muốn dùng kỵ vây hai cánh, lấy hàng dày mà liều chết xông lên nên ông đã lệnh 8 “Phương Bách Quân” gộp lại. “Mau đưa các trường quân, thuẫn quân phía bên của mỗi quân ra lấp khe hở!” – Lý Kiến dùng vừa lệnh thì các thân vệ dùng cờ ra hiệu lệnh cho các quân xung quanh thấy, họ cũng lần lượt ra hiệu như vậy cho đến rìa sườn quân. Các đội thương kích phía sau tiến lên lấp chỗ trống giữa các đội với nhau, cùng với thuẫn quân chắn ngang bảo vệ trường quân qua tấm khiên tròn dài như bầu sen; còn cung thủ, lính ném đá đi ra hàng sau bắn yểm trợ. Tuy điều thứ hai trong “Thập sách binh lược” của Thống Sư thì Lý Kiến đã làm khác đi rất nhiều, có người thân vệ vấn đáp: ” Sao ngài lại làm vậy, thuộc hạ nhớ là nó không đúng lắm với “Thập sách binh lược” của vị Bảo Nam Trọng Tướng Quân mà?” Lý Kiến cười nhẹ với thân vệ nói: ” Ta phải tùy cơ, biết thế, hiểu cuộc mà ứng phó, xoay càn mà đánh. Không nên dưng dưng đuổi theo lòng sông đã cạn, phải tìm sông khác mà uống lấy!” Khi kỵ nhị quân của Hậu Sở ồ ạt tiến lên trước 120 trượng thì thấy các ô trống chúng định đi qua đã bị lấp đầy với trường quân, làm chúng bất an. Khiếp sợ hơn nữa, các hàng giáo giờ đã nhiều hơn ở các đội hình so với lần trước bọn chúng đánh. Một vài tên vẫn tiến lên trước vì lời hứa ban thưởng trọng, nhưng đa phần đều bị xiên bởi trước các mũi thương nhọn quắt tinh xảo một cách nhanh gọn. “A…không thể…qua được” – một tên kỵ nhị quân bị đâm thủng giáp trụ, rên rỉ cố gắng nói không cam lòng. Không một sợi tóc có thể đi qua được hàng thương như vậy, có một tên đã e dè mà nói với chủ tướng Kỵ Nhị Quân:” Chúng ta nên rút về hiệp cùng bộ binh đi thưa tướng quân” Chu Thông quát tháo lên, nắm chặt thương mà chỉ vào mặt tên lính đó rằng: ” Đi mau lên lũ nhát chết kia, giết chết đám chuột này có khó gì đâu? Ai không lên thì đừng trách ta bội nghĩa!”, câu này khiến cho từng hàng tốt thương kỵ liều chết xông vào hàng trường thương như mấy con thiêu thân dù kết quả chỉ có một. Mũi thương của quân Hữu doanh từng lần đâm lấy đi sinh mạng của kỵ nhị quân Hậu Sở, thương vong cho lực lượng Chu Thông đã lên tới 800 người – tức là cứ ba người thì một người đã ngã xuống, không thể chiến đấu được nữa. Chưa bao giờ trong một canh giờ mà nhiều kỵ binh chết thê thảm, khó tả siết nỗi tuyệt vọng của từng tên kỵ tốt như ở trận gần làng Như Tô đây, bị giết chết bởi chính người mà bọn nhị kỵ này coi thường từ trước. Một vài tên xung phong thoát khỏi hàng thương, đưa ngựa tới gần trường quân định đâm xuống thì những tên này bị đâm vào đùi bởi thuẫn quân cũng như bị những tốt lính xứ Nam kéo xuống đất kêu la, chúng bị kết liễu trong tức khắc. Khó bằng nào làm cho quân Kỵ Nhị này phá nổi trận thế như vậy, nên hắn buộc lòng thu quân quay về hội cùng Trần Hào đang đưa bộ binh ra. “Lui binh, lui binh! Đừng có ở lại đây!” – Chu Thông ra lệnh rút quân với một giọng hốt hoảng, không còn khí phách ngạo mạng nữa. Kỵ quân tổn thất hơn nửa dần thu quân quay về, trong sự nhục nhã lần đầu tiên trong lần đánh trận này. Bọn giặc đang hoảng sợ chạy nước rút thì tả kỵ của Mai Toàn đột nhiên chạy tốc xuất đuổi theo bắt lấy. Mai Toàn cười khinh bỉ rằng: ” Nhà ngươi không có đường mà rút đâu!” Khi tới gần Chu Thông, hắn buộc phải cầm thương ra đỡ đòn của Mai Toàn mấy hiệp. Hắn sau sự thất thần thì dữ tợn nói: ” Đồ cắn lén, ta sẽ đánh chết ngươi!” Rồi chủ tướng Nhị Kỵ Quân dùng thương đâm vào ngực của vị tướng kỵ Hữu doanh, đó là một đòn hiểm độc học từ Hạng Danh. May là Mai Toàn dùng thân thương kích đỡ lấy, tuy lần đánh này làm đứt gãy chính vũ khí chính của ông. “Ngươi thế cô rồi, đỡ lấy thương cuối của ta nè!” – Chu Thông liền dùng ngựa qua phía phải mà đánh, định chém đứt đôi người đối phương. Mai Toàn phải đưa ngựa lên cao để né tránh đòn độc này, khiến cho ngựa ông bị chém thủng bụng mà quỵ xuống. Người của Mai Toàn ngồi xuống đất, cố gượng dậy. Chu Thông tự tin tới gần phía Mai Toàn cười khoái thích: ” Lũ chuột Lâm Nam chỉ có vậy mà thôi! Nào gặp địa vương âm phủ đi!”, hắn chạy tới Mai Toàn định đâm chết ông. Nhưng lúc này những mũi tên từ không trung bắn vào phía Chu Thông một cách chính xác, người ngựa bị trúng mấy đợt mũi tiễn mà rơi xuống. Bởi Lý Kiến đã lệnh cho cung nỏ ngắm thẳng về phía tướng địch, không để hắn giết chết kỵ tướng của Hữu doanh. Cả hai vị tướng địch ta đều không còn cưỡi kỵ nữa, nhưng Mai Toàn vẫn có thể đứng dậy mà cầm kiếm tới trước mặt Chu Thông đang cố đứng dậy đều bất thành. “Ta nghĩ ngươi coi thường quân của ta rồi đó, Chu Tặc Tử à!” – Mai Toàn cười nhép miệng lên, có một cảm giác của một người sống sót cuối cùng. “Hẹn gặp ngươi ở địa phủ, ta quả coi thường quân các ngươi. Xứng chịu chết rửa tội trước đại vương!” – Chu Thông chỉ bất lực mà nói ra lời này. “Cũng như nhà ngươi phải chịu chết rửa tội trước Trời!” – Mai Toàn sau đó đâm kiếm vào yết hầu của vị tướng kỵ kiêu hùng Hậu Sở, lập tức giết hắn. “Mai xạ kỵ tướng quân anh dũng! Tiếp tục giết giặc anh em ơi!” – khinh kỵ của Mai Toàn hô lên trong vui mừng, rồi lại dùng thương mà đâm chết từng tên địch Sở tặc. Thế kỵ nhị quân tinh nghệ nhất nhì của Hạng Danh bị khinh kỵ của Mai Toàn diệt sạch một cách nhanh chóng, ít tên nào chạy thoát hay sống sót được vì chúng chiến đấu tới cùng. Chu Thông bị tử thương trong cuộc giao tranh này, Mai Toàn sau tới lấy lá cờ chữ Sở màu tím – tức là đã lấy đi sinh khí của đội kỵ từng ngang tàn khắp phía Nam Trung Nguyên. Sau hơn một canh giờ sắp xếp đội ngũ mà dàn trận tiến lên, Trần Hào và hơn 15 ngàn binh sĩ đã sững sốt và rung sợ khi thấy cờ xí ủ rũ của đội kỵ binh xuất kích của Chu Thông chỉ huy cắm trên xác ngựa chủ tướng, xung quanh chất đầy thi thể của đồng hương nước Sở. Tiên phong của Trần Hào quay về mang theo xác của Chu Thông, trán khắc dòng chữ nung đen ghi các chữ: ” Tội danh đã rửa trước Trời!” Tức giận, Trần Hào vừa hận không nghe lời của Kiểu Thụ cũng vừa căm thù với quân Lâm Nam đã hại chết thân hữu xa trường với hắn. Hắn bèn nói: ” Toàn quân, các ngươi mau báo thù cho kỵ nhị quân – là huynh đệ chúng ta, lấy máu mình rửa nhục cho Chu kỵ tướng, hãy băm xác bọn Lâm Nam nghịch tặc!”, toàn quân tiến lên trong sự lo âu. Nhưng đám bộ binh này cũng là tự nộp mình bỏ mạng trước các trường thương, mũi tên và nỏ tiễn do Lý Kiến đảm đương trận địa. Không tài nào một quân, một tốt địch vượt qua khỏi rừng thương để chạm vào sợi lông, tóc tơ quân ta nổi. Một vài tên địch vượt qua được trận địa rừng thương của quân xứ Nam, chúng định tới đâm chết trường quân. Một người chừng 20 tuổi cầm trường thương dài tên là Cồn Hạo tuy bị vài tên đâm vào ngực liên tục nhưng anh vẫn cố giữ thế thương, không hãi hùng vì địch tới gần mình mà bỏ vị trí của anh. Cồn Hạo khi chết thì tay anh vẫn nắm chặt trường thương, người cố gắng đứng dậy mà khỏi quỳ xuống. “Sao lại như vậy chứ? Không một lũ ăn hại nào tiến lên được sao?” – Trần Hào giận trào sôi trong người mà đàn hạc hỏi binh sĩ của hắn. “Lũ binh chúng tôi khó lòng vượt qua nổi, toàn là rừng thương đâm tới!” – một tên lính than thở nói. Rồi từ phía trường thương, Lý Kiến bước ra đòi thách đấu với Trần Hào. Ông nói rằng: ” Trần Hào, ngươi hồi trước cố vây chết ta ở Đông Hằng mà không được. Nay ta trước mặt ngươi lần nữa, nếu muốn mạng ta thì dùng kiếm ra đánh!” Trần Hào mặt trợn tròn ra mà quát: ” Vậy thì ta sẽ không lỡ việc lần nữa, ngươi phải chết dưới tay của ta!”, cả hai vị tướng cùng nhau đánh kiếm thuật hòa cùng trận chiến của các quân, tiếng ca oán bởi cái chết cũng như sự điên cuồng la lên, cố sống sót của từng binh sĩ tạo một cảnh địa ngục trần gian. Qua tới chiều tà, hơn vạn quân Hậu Sở chịu thương vong nặng, người chết nằm xấp xuống, chồng lên nhau, mang mùi máu tanh và tứ chi đứt rời mà không dám nhìn thẳng xem. Vốn là các tinh binh tham gia trăm trận, thắng nhiều thua ít của Bá Vương Hậu Sở, mà giờ đây chỉ là vong linh xa rời đất cõi này. Trần Hào bị chính Lý Kiến dùng đòn thuật giữ kiếm trước thân, vốn hắn định chém lên nhưng bị luồng kiếm của Lý Kiến làm cho tay câm chuôi kiếm của hắn đứt lìa khỏi thân thể. Hắn rên tiếng:” Aaaaa…” rồi bị đẩy xuống bùn đất trong tuyệt vọng và khó chấp nhận hiện thực đã xảy ra. “Ta không tin ta lại thua trước lũ chuột nhắt Lâm Nam vào hôm nay! Ta không thể nào tin!” – Trần Hào gào lên, người ngửa mặt với trời đất trong sự bất lực. Lý Kiến đi tới gần người Trần Hào, cầm kiếm kề cổ hắn nói rằng: ” Nay ngươi đã chứng kiến ngày đám chuột nhắt này đánh tan khí thế coi trời bằng vung của toàn quân Hậu Sở các ngươi. Ta mong ngươi đừng có chống cự khi bắt ngươi về doanh, bằng không trừng trị ngươi tế Trời là việc ta phải làm!”, rồi Trần Hào chịu buông xuôi cho lính Lâm Nam bắt giữ. Trần Hào cùng với hơn ba ngàn tàn dư bị bắt làm tù binh của Lâm Nam, tạo nên tiếng tăm uy thế chưa từng có với việc diệt gọn đội quân tranh hùng nhất nhì ở Trung Nguyên. Người dân ra đón đội quân Hữu doanh khải hoàn danh dự trở về, họ liền dâng bánh tro, chuối vàng, bánh nếp xanh cùng với các quà khác để tri ân những anh hùng quyết tử nhất sinh cho mảnh đất của tre và lúa này. Về đêm, quân lính cùng nhân dân ăn mừng vui đùa nô nức, quay quần hội chung reo hò tiếng ca chiến thắng trận đồng cỏ Như Tô. Trường làng đưa chén rượu nếp đỏ lên chúc tụng rằng: ” Trời giáng xuống các tiên tướng từ đức yêu dân như các vị Dương Lâm, Lý Kiến, Mai Toàn và Đinh Thắc đây trợ giúp dân làng chất phác chúng tôi. Chẳng có gì mà chúng tôi có thể trả hết ơn tình, nghĩa hiệp cả!” Rồi mọi người trong làng cũng đồng thanh hô to chung với nhau: ” Đúng vậy, trưởng làng chí phải. Không hề quên nổi tấm kiên trung này!” Còn ba ngàn tù binh Hậu Sở cũng được ăn chút cháo trắng với cá khô, tuy không bằng bên ta nhưng bọn chúng cũng chẳng bị trói buộc gì hết. Đa phần tù binh bị giữ ở trại riêng, có quân sĩ canh gác khỏi chạy trốn. Một binh sĩ canh gác đưa cho vài tên tù binh Sở tặc bánh kẹo, nói giọng to rồi nhẹ lại rằng: ” Các ngươi mau ăn chút đi, cũng là quà dân làng tặng ta! Quá nhiều nên có chút ít tặng các ngươi ăn thử đó, đừng ngại” Một tên tới cầm lấy, cảm tạ rồi bắt chuyện với lính canh gác rằng: ” Tôi đây cũng chẳng muốn sang đánh Lâm Nam các ông đâu. Tụi tôi chỉ là nghe lệnh đại vương mà thôi!” “Ta biết các ngươi cũng như ta là một người nông phu phải tòng quân thôi, nhưng chúng ta là người từng cùng nhau chống lại bọn quỷ tộc lại lỡ giết nhau như vậy thì ta tiếc lắm.” – rồi người gác trại bèn hỏi tên tuổi tên người Sở kia –“ Này ngươi, ngươi tên gì vậy?” “Tôi tên là Lục Trầm, người đạo Vân Nam ở huyện Đại Lý, ở làng Viên Lư” – tên tù binh kể về làng của hắn –“ Tụi tôi vốn sống nghề bắt cá ở sông, nhưng do chiến loạn nên phải tòng quân theo đại vương nước tôi. Cũng hơn 3 năm rồi chưa về lại quê, tôi nhớ cha mẹ, ca ca với muội muội của tôi nữa!” Lời nói làm động lòng, lính gác người Lâm Nam bèn vỗ vai nói với tên tù binh họ Lục đó rằng:” Ta tên là Hồ Sâm, người làng Tam Sơn thuộc huyện Đương Nam của Hách châu. Nhà ta ba đời đều làm biên quân phục vụ họ Nguyễn huyện lệnh, giờ tới đời ta thì ta với anh ta cũng phục vụ lấy. Anh ta thì nay đã làm Xạ kỵ tướng quân của Tả doanh (tức là Hồ Sử), còn ta thích yên phận chỉ làm bên hậu cần giữ trại mà nay gặp người đáng mến như ngươi.” Hồ Sâm cũng đáp tiếp: ” Ta cũng chỉ mong lấy thân mình giữ lấy biên cương mà thôi, chẳng có gì đáng trân trọng người dân sống trong yên bình cả. Người dân làng đánh cá của ngươi cũng sẽ mong như vậy chứ?” Lục Trầm nghẹn ngào rơi nước mắt mà nói: ” Tôi cũng mong như vậy, sau này chiến loạn xong thì chúng ta có thể cùng nhau thăm quê của mỗi người lẫn nhau. Lúc ấy con người sống không áp lực như bây giờ hơn, đúng không thưa Hồ đại nhân?” Hồ Sâm nhẹ giọng nói: ” Ta cũng mong như vậy. Một ngày chinh chiến đã qua, chỉ còn vòng tay gia đình và anh em thôi”, rồi cả hai cùng cười vui vẻ với nhau như huynh đệ. Trong hai ngày tiếp theo, trên núi Sơn Hoàn đã lập nên đài vọng tưởng nhớ binh sĩ tử trận; trong đó có người trẻ tên Cồn Hạo đã liều chết giữ vững thương trận, anh một lòng không dám lùi bước. Còn có cụ già 60 tuổi tên là Lợi làm lính ném đá phía sau, khi hết đá ném thì cụ tuốt dao ra đâm địch cố vượt khỏi hàng trường thương, đâm địch cho tới khi cụ trút hơi thở cuối cùng. Tất cả có hơn 318 chiến sĩ vì nước vong thân, họ không màng cái chết để dựng nên khúc bi hùng ca tráng, lấy máu đào nuôi lấy đất non. Những ngôi mộ ấy đều có đắp bia đá ghi rõ tên tuổi, họ chiến đấu ở đơn vị nào một cách rõ ràng. Còn có một mộ tập thể của hơn vạn quân Sở làm đắp nên gò cao, ghi khắc trước gò rằng:” Chu Thông cùng với vạn quân Sở ngụy ở đây đã nằm lại, lấy xác rửa tội trước Trời” Chú thích: [1] Là món ăn làm từ dê, có các mâm cỗ bày biện. Nhưng người dân vùng núi đạo Lâm Nam, đạo Tiến Nam và Trũng Thiên Ấp thì dùng từ này làm tiếng lóng cho việc bọn chằn tinh bắt lấy con người mà làm thức ăn cho bọn chúng.
Chương trước Đã hết chương
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ